fbpx

CHƯƠNG 3 – Sinh khí thông thiên luận (1)

KINH VĂN

Hoàng Đế nói :

– Các bậc Thánh triết đời xưa, hiểu suốt (thông) lẽ trời đất rằng “ khí Trời là cái gốc của tính mệnh con người. Trời lấy 2 khí Âm dương để sinh ra muôn vật, mà tính mệnh con người ở gốc Âm-dương ; cho nên ở trong khoảng 6 cõi (2) , khí đó phân tán ra ở trên mặt đất, chia làm 9 Châu (3), khí đó phân tán ở con người thành ra 9 KHIẾU (4) , 5 Tạng (5) và 12 khớp xương (6) đều cùng thông với Thiên-khí. Những phần tử để sinh ra con người nhờ ở 5 HÀNH và 3 KHÍ (7) .

Nếu không cẩn thận, hằng phạm phải những khí đó sẽ sinh tật bịnh. Trái lại nếu biết cẩn thận sẽ được sống lâu. Thiên khí là một thứ rất trong sạch, ta hay thể theo cái trong sạch ấy mà giữ mình, thời “ CHÍ-Ý” tự an tỉnh, mà cái Dương khí bao bọc quanh mình là cũng kín đáo, dù có “tặc tà” cũng không làm gì được. Chỉ có bậc Thánh nhân là hay đề phòng như vậy. Còn người thường thời trái với lẽ đó, nên trong thời 9 khiếu bế nghẽn, ngoài thì cơ phu bị vít, cái Dương khí bao bọc bên ngoài tan rã ; đó là tự mình gây nên bịnh.

CHÚ GIẢI :

(1)_ Thiên này nói về khí Trời giao thông với khí ở trong thân thể con người. Đầu thiên có 2 chữ “THÔNG THIÊN” nên đặt làm tên bài.

(2)_ Trên dưới và 4 phương là 6 CÕI.

(3)_ Ký, Duyệt, Thanh, Từ, Kinh, Dương, Dự, Đương, Ung, là 9 CHÂU.

(4)_ Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận, là 5 TẠNG.

(5)_ Hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi, miệng, và tiền hậu âm là 9 KHIẾU.

(6)_ Hai cánh tay, hai cẳng chân đều có 3 khớp lớn, cộng thành 12 khớp. _ LINH KHU nói : “ Đất có 9 Châu, người có 9 Khiếu, trời có 5 Âm, người có 5 Tạng ; NĂM có 12 tháng, người có 12 khớp xương ; Năm có 365 ngày, người có 365 đốt xương nhỏ ; đất có 12 nguồn nước, người có 12 đường mạch.”

Khớp xương là một nơi chứa Thần-khí qua lại cho nên hợp với tháng năm của Trời. Mạch là một nơi lưu thông của
huyết-dịch, cho nên hợp với nguồn nước chảy của đất ; 9 Khiếu là một nơi ra vào của Tạng khí. 5 Tạng là nơi tụ họp và biến hóa của khí Âm-Dương, cho nên đều phối hợp của Thiên-khí.

(7)_ Ba khí là 3 khí thuộc Âm và 3 khí thuộc Dương:

– 3 khí thuộc Âm : HÀN_TÁO_THẤP

– 3 khí thuộc Dương : PHONG_HỎA_THỬ (khí nắng).

KINH VĂN

Dương khí ở trong con người như “Thiên” với “Nhật”. Nếu làm sai lạc, mất địa vị của nó, sẽ không thể sống
được. Thiên-đức lúc nào cũng kiện vận không ngừng nên mặt trời sáng tỏ, Dương khí ở con người cũng do đó mà
bao bọc ở bên ngoài _ Dương khí vốn gốc ở Chí-âm, bên ngoài gặp phải khí Hàn, tức thời Dương-khí từ bên trong
ứng ra để cản lại _ sự ứng ra nhanh chóng như xoay cối cửa (nền gọi là VẬN-KHU) (1)

CHÚ GIẢI:

(1)_ Phàm cái độc của khí “Phong, hàn” đều bẳt đầu phạm vào khí phận ở bì mao, vì thế Dương khí ở bên trong mới ứng ra để cản lại, do đó, gây nên sốt nóng _ MẠC-TRỌNG-SIÊU nói : “án: bịnh Thương-hàn bắt đầu phạm vào khí phận ở bì mao, gặp Dương khí ở bên trong ứng ra nên hóa nhiệt, nhiệt dù nhiều cũng không chết”_ Tỷ như bịnh ở kinh Thái-Dương, phát nhiệt, nhức đầu, mạch lại “TRẦM” (bịnh ở Thái-dương đáng lẽ mạch PHỦ, nên đây dùng chữ lại”) : nên kịp cứu Dương-khí ở “LY” cho nó ra ngoài. “Nguyên Hán-văn đoạn này chỉ có 1 câu: “ Nhân ư hàn dục như vận khu”_ theo nghĩa đen thời là : “Nhắn ở khí hàn muốn như xoay cối cửa” vì dịch như thế thời khó hiểu nên phải giải dài như trên.

KINH VĂN

Gặp phải “THỬ” và “HÃN” sẽ thành ra phiền và thở gấp. Nếu không phiền, sẽ nói nhiều ; mình nóng như than, hãn ra thời khỏi (1)

CHÚ GIẢI:

(1)_ Dương tà của Trời (tức hơi nắng) phạm vào Dương-khí của người, khí bị thương không vệ ngoại (giữ bên ngoài) được, nên mồ hôi (hãn) mới thoát ra. Cái tà ở khí-phận nhiệt quá bách vào Tâm, nên Tâm phiền. Bộ vị của Tâm ở trong Phế,Tâm mắc bịnh Phế cũng bị lây. Hỏa khắc Kim, nên mới thành thở gấp.

Nếu không phiền, thời tà khí còn ở khí phận ; khí phận bị thương nên khí hư, khí hư nên nói nhiều. Dương tà của Trời phạm vào Dương khí của ngươi , hai khí đó cùng chọi nhau, nên mình mới nóng như than. Tà nhiệt đó gặp được chất âm dịch thời giải, nên mồ hôi ra mới khỏi.

Án: THƯƠNG-HÀN-LUẬN nói rằng: phàm bịnh thường tự hãn là do khí không hòa, lại dùng thuốc cho “phát hãn” thêm, khiến cho VINH, VỆ điều hòa sẽ khỏi. Xem vậy thời biết : vì gặp khí thử mà hãn ra là vì “thử” làm thương đến khí Dương, khiến cho vệ-khí (dương) không hòa. Đến khi hãn ra mà khỏi, tức là do Vinh-Vệ hòa vậy” .

– TRƯƠNG-KHIẾT-CỔ nói: “do sự hành động mà mắc phải gọi là trúng nhiệt ; do sự yên lặng mà mắc phải gọi là trúng THỬ _ Trúng nhiệt thuộc DƯƠNG CHỨNG, trúng thử thuộc ÂM CHỨNG.”

– LÝ-ĐÔNG-VIÊN nói : “về những tháng Thử-nhiệt, những người nhàn hạ, lánh lắng ở những nơi buồng sâu nhà
rộng….. trong thời kỳ đó, mà mắc bịnh gọi là trúng THỬ. Chứng trạng tất nhức đầu, ố hàn, thân hình co rút, các
khớp xương đau nhức, trong lòng buồn bực, da thịt rất nóng và không có hãn. Đó là bởi cái khí Âm-hàn ở nơi
buồng sâu nó cản át lại mà sinh bịnh. _ Nếu do người lao động mắc phải ở ngoài trời nắng, thời gọi là trúng
NHIỆT. Chứng trạng tất nhức đầu, buồn bực, ố nhiệt, da thịt nóng như đốt, khát nhiều uống lắm, hãn ra như
tắm…. Đó là bởi nhiệt độc phạm tời PHẾ-KHÍ mà sinh bịnh.

KINH VĂN 

Gặp phải THẤP (khí ẩm). Đầu nặng như đội ; thấp phạm vào Dương-khí, nhân đó hóa nhiệt _ Dương khí vốn là
một vật nhuần nuôi các đường gân, giờ Dương khí bị thương, gân sẽ mắc bịnh. Các gân nhỏ co rút lại, các gân lớn buông chùng ra, thành ra bịnh CÂU-LOAN và TÚNG-THỈ (co quắp, rã rời không cử ñộng ñược). Có khi lại sưng
thũng cả tứ chi (bởi Dương khí không vận hành ra tứ chi nên sưng thũng).

Nếu lại quá phiền-lao, thời Dương khí bị phân tán ra bên ngoài ; không có đủ năng lực để bảo vệ Âm-khí ở bên
trong, tinh sẽ tự tiết ra mà hao kiệt. Nếu ở mùa Hạ thời thành chứng TIÊN-QUYẾT (chân tay giá lạnh) ; tinh khí hư nên mắt mờ, không trông rõ, tai ù không nghe rõ.

Dương khí thông ra bì phu tấu lý (thớ thịt, bắp thịt) nếu tức giận quá độ, thời khí nghịch lên, huyết cũng theo
mà uất lên bộ phận trên, gây nên chứng BẠC-HUYẾT (toàn thân giá lạnh). Gân nhờ có huyết mới thấm nhuần mềm mại; giờ huyết bị uất, gân không được thấm nhuần nên mới thành ra rã rời không thể cử động.

Nếu hãn ra chỉ có nữa mình (1) sẽ sinh chứng THIÊN-KHÔ (2) ; nếu hãn ra mà gặp Thấp, sẽ thành chứng mọc các mụt nhỏ lấm tấm (3) . Những người mà ăn nhiều thuốc cao lương, phần nhiều mọc đinh (4) . Hãn ra gặp gió, khí lạnh át lại, sẽ uất thành các mụt nhỏ như nốt sởi (5) .

CHÚ GIẢI:

(1)_ vì Dương-khí không bao bọc được khắp mình.

(2)_ khô đét một nửa mình.

(3)_ các nốt nhỏ, bên trong có mủ, tên chữ Hán gọi là “TỎA-KHÍ”.

(4)_ vì cái nhiệt độc của thức ăn nhiều chất mở “béo ngậy” hay mọc đinh, mụn, hoặc kiết lỵ .v.v…

(5)_ vì Dương-khí bị át lại, không tiết ra được, nên mới mọc những nốt như vậy.

KINH VĂN 

Dương khí : cái chất “Tinh” của nó thì nuôi THẦN ; cái tính “Nhu” của nó thời nuôi GÂN (1) . Nếu sự “KHAI-HẠP” (2) của nó bị vướng mắc, sẽ bị hàn tà phạm vào. Phạm vào đường xương sống thời thành bịnh “GÙ” ; nó lưu luyến ở trong mạch máu, trong thớ thịt thời thành chứng “TÊ” ; hoặc phạm vào Tâm tạng thời thành chứng hay sợ, hay hãi, hoặc phạm vào khí phận ở trong các thớ thịt thời thành chứng mụn sưng (3) . Nếu hãn chưa ra hết, nhiệt còn lưu luyến trong tấu lý, huyệt DU (4) bị vít, sinh chứng PHONG NGƯỢC (5) .

CHÚ GIẢI:

(1)_ Dương khí là cái chất TINH của thủy cốc cho nên trước nuôi “ THẦN kHÍ ” của 5 Tạng. Tính “NHU” là cái khí “sơ Dương” của Thiếu-dương . Án: – Đầu bài nói về THẦN KHÍ vốn gốc ở Tiên-chân ; đây lại nói tới THẦN CHÍ do năm vị (5 mùi) sinh ra, đó là bởi TINH-KHÍ-THẦN đều có cả Tiên-thiên và Hậu-thiên. Cái thần-khí của Tiên thiên lại phải nhờ cái khí “Thủy cốc” của Hậu- thiên để sinh dưỡng ; cho nên có câu rằng : “ Hai tinh cùng cọ sát nhau, gọi là “THẦN” . Hai tinh ñó là tinh của Thiên-ất và tinh của Thủy cốc vậy.

(2)_ KHAI-HẠP là mở đóng, tức là nói khi ấy vận ra hoặc thu vào, tựa như cánh cửa mở và đóng.
(3)_ Đây nói sự bảo vệ của Dương-khí không được bền chặt, khiến hàn tà phạm vào mà gây nên các chứng trạng ; ta cần phải bảo trọng khí đó.

– TẾ CÔNG nói : “ Bảo vệ bên ngoài không gì bằng bì mao (da lông) ; nếu bì mao không bền kín thời tà sẽ phạm ngay vào tấu lý (mạch lạc).

MẠC-TỬ-TẤN nói : “Cái nhiệt độc của thức cao lương phạm vào nhục lý sẽ mọc đinh lớn. Cái tà khí bên ngoài phạm vào nhục lý sẽ mọc mụn sưng.” Xem đó thời biết bì mao nhục lý đều thuộc địa hạt cai quản của Dương khí. _ Vậy ta giữ gìn cho Dương khí đầy đủ, không bị hao hụt, tự nhiên các bịnh không phát sinh được.

(4)_ HUYỆT DU : là 1 huyệt của Phế-bộ _ Tấu lý bị thưa rỗng, thởi biểu Dương với tà khí đều ẩn nấp ở đó. Hàn tà ở biểu thời theo Dương mà hóa nhiệt ; tà lọt vào tấu lý mà biểu-khí (dương) không trở về được “KINH” là nơi cư trú của mình, vì thế nên huyệt DU mới bị vít.

(5)_ PHONG NGƯỢC : là một chứng sốt úi, chỉ nóng mà không rét

KINH VĂN 

Ta nên biết rằng”PHONG” đứng vào hàng đầu mối trăm bịnh. Nếu tấu lý bên vững kín đáo, thời dù có gió độc
cũng không làm gì được
(1) . Bịnh tà nếu để lưu luyến lâu nó sẽ truyền hóa, trên dưới không thông. Lương công không để cho nó như vậy ; phải chính-trị ngay từ trước (2) . Dương khí ban ngày thời chủ về bên ngoài. Lúc mờ sáng khí ấy mới phát triển, đúng trưa thời toàn thịnh, quá chiều thời đã hư, KHÍ-MÔN bắt đầu đóng (3) .

CHÚ GIẢI :

(1)_ Đoạn này nhắc lại : nên phải bảo trọng Dương-khí, để cho tấu lý được bền kín. Đại phàm : hàn thử trước phạm vào bì mao, còn phong-tà thời thấu thẳng vảo tấu lý._ Phong là một thứ đi nhanh và biến hóa luôn. Khi đã phạm tới cơ tấu, thời sẽ đi tới ngay kinh mạch. Khi đó hoặc thành chứng HÀN TRÚNG, hoặc thành chứng THỬ TRÚNG, NHIỆT TRÚNG hoặc thành chứng THIÊN KHÔ, hoặc thành chứng TÍCH TỤ …… Nên mới gọi là “ đầu trăm bịnh” ……

Tiết trên nói về “ hàn, thử, thấp” làm thương ñến biểu Dương, nên cần phải giữ sức cho biểu dương khỏi suy yếu.
Đoạn này nói :
“Phong tà phạm vào thẳng tấu lý, nên cần phải bảo vệ Nguyên-chân cho được bền kín”.

(2)_ Truyền hóa : như hoặc hóa làm hàn, hoặc hóa làm nhiệt, hoặc hóa làm táo kiết, hoặc hóa làm thấp tả…. Bởi ở Trời có cái tà khí lục dâm, mà trong thân con người cũng có 6 khí để hòa theo.

(3)_ Đóng tựa như đóng cửa. theo LINH KHU : mùa Xuân thời sinh, mùa Hạ thời trưởng, mùa Thu thời Thâu, mùa Đông thời Tàng ; Đó là lẽ thường của Thiên khí. Trong thân con người cũng ứng theo như vậy. Lấy một ngày chia làm 4 mùa : sáng sớm là Xuân, về đêm là Đông. Sáng sớm Dương khí mới phát triển, cho nên người ta phần nhiều sáng sớm hay tỉnh táo, và lanh trí khôn ; đúng trưa thời khí trưởng, trưởng thời thắng được tà……..

KINH VĂN 

……… Vậy nên về đêm nên giữ gìn, đừng quá dùng sức gân xương, đừng ra hứng sương móc. Nếu trái lẽ ấy sẽ
không khỏi mắc bịnh
(1) .

Kỳ Bá nói :

Âm chủ về tàng tinh, mà thường bồng lên để ứng với bên ngoài ; Dương chủ về bảo vệ bên ngoài cho Âm
được bền vững kín đáo
(2) .

Âm không thắng được Dương, thời luồng mạch chảy gấp, sẽ phát bịnh CUỒNG (3) .

Dương không thắng được Âm, thời khí của 5 Tạng tranh dành nhau do đó 9 khiếu không thông (4) .

CHÚ GIẢI :

(1)_ Gần tối, nhân-khí bắt đầu suy ; đến đêm, khí đó thu vào Tạng, nên phải giữ gìn, đừng quá nhọc mệt, không để lõa lồ, để phòng ngoại tà xâm phạm

(2)_ Sinh mệnh con người, gốc ở Âm-Dương ; Dương lại sinh ra bởi Âm. Nên trên kia ĐẾ nói về Dương, ở đây Kỳ-Bá lại nói về Âm.

(3)_ Khí thuộc Dương, huyết mạch thuộc Âm. Dương thịnh mà Âm không thắng được, nên mới phát bịnh CUỒNG.

(4)_ 5 Tạng thuộc Âm, 9 khiếu là nơi cửa ngõ của thủy-khí. Nếu Âm thịnh mà Dương không thắng được, thời cái khí của 5 Tạng giao tranh ở bên trong, 9 khiếu do đó mà không thông. Bởi cái khí của 5 Tạng ra ngoài thời là Dương, ở trong thời là Âm. Tạng thuộc Âm, tinh huyết thuộc Âm ; khí thuộc Dương, 9 khiếu thuộc Dương, ở trong là Âm, ra ngoài là Dương. Năm Tạng chủ về tàng tinh. Bàng Quang là một cơ quan chứa tinh dịch. Cái khí Biểu Dương do tinh-thủy từ Bàng-quang sinh ra. Cái khí ở cơ cấu lại do Nguyên-chân ở 5 Tạng. Đó tức là Dương-khí được sinh ra bởi Âm-tinh. Nên mới nói rằng : –“ cái gốc của sinh mệnh con người là ở Âm-Dương…..”

KINH VĂN 

Chỉ bậc Thánh-nhân biết điều tiết Âm-Dương, khiến cho gân mạch điều hòa ; xương tủy bền chặt ; khí huyết đều thuận, nên trong ngoài hòa hợp, “TÀ” không thể làm hại, tai mắt tỏ sáng (1) .

Phong phạm vào khí, tinh sẽ mất ; nhân lại phạm vào cả CAN (2) . Nếu lại thêm sự ăn quá no, gân mạch tức thời sụt lỏng, Đại-Trường nhiệt tích mà gây nên bịnh TRĨ (3). Hoặc vì uống quá nhiều thời khí nghịch, nếu lại quá dùng sức, THẬN sẽ bị thương do đó thành chứng đau ở CAO CỐT (4) .

Tóm lại, cái cốt yếu của Âm-Dương : “Dương có bền bĩ thời sinh mệnh mới vững vàng (5) .

CHÚ GIẢI :

(1)_ Âm Dương điều hòa, tà không phạm tới. Tinh khí thông lên tai, thần-khí thông lên mắt, nên tai mắt tỏ sáng.

(2)_ PHONG là Dương tà, nếu phạm vào phu biểu, thời khí sẽ bị thương. Dương khí bị thương thời Âm-tinh sẽ mất (hoặc như chứng TIẾT TINH) _ CAN thuộc Mộc, Phong với Mộc là đồng khí. Nếu Phong phạm vào tất phải động đến Can-khí. Can-khí bị phong tà phạm thời HUYẾT sẽ bị thương (vì Can tàng huyết). Câu này lại nêu rõ cái nghĩa : “Dương phải giữ bền cho Âm”.

(3)_ Can chủ Huyết và Cân. Thức ăn vào VỊ, tán bố cái tinh-khí lên Can, rồi thấm nhuần vào gân. Giờ tà đã làm thương Can mà lại ăn quá no, không đủ sức để bố tán thực-khí cho được thấm nhuần vào gân, nên gân bị sụt lỏng ; khiến thực khí đình trệ ở ĐẠI-TRÀNG, hóa thành Thấp-nhiệt, mà gây nên bịnh TRĨ _. Nước uống vào VỊ chuyển du lên PHẾ. Phế chủ về khí ở toàn thân. Giờ khí bị tà làm thương, mà lại uống nhiều, thủy-tinh không thể tán bố, nên mới thành chứng khí nghịch .

(4)- CAO CỐT tức chỗ xương ngang lưng.

(5)_. Mấy câu này tổng kết cái nghĩa ở mấydoạn trên và lại nêu rõ (cần phải chú trọng về Dương-khí).

KINH VĂN 

Hai khí ấy nếu không điều hòa, như có Xuân không Thu, có ðông không Hạ. nên làm cho nó điều hòa tức là
phương pháp của bậc Thánh-nhân. Nếu Dương bị tà phạm, không thi hành được cái nhiệm vụ làm bền ở bên ngoài, Âm sẽ bị mất ở bên trong. ÂM BÌNH, DƯƠNG BÍ, tinh thần sẽ trị ; Âm-Dương ly biệt, tinh-khí sẽ tuyệt
(1) . Gặp phải lộ (móc) và phong, sẽ sinh bịnh HÀN-NHIỆT. Mùa Xuân bị thương vì Phong tà, khí lưu liên sẽ thành chứng ĐÔNG-TIẾT (tả) . Hạ bị thương về Thử, tới mùa Thu sẽ sanh chứng NGƯỢC. Thu bị thương về Thấp, ngược lên thành chứng HO, phát ra thành chứng NUY-QUYẾT. Đông bị thương về Hàn, sang Xuân sẽ thành ÔN BỊNH (2) .

CHÚ GIẢI :

(1)_. BÌNH là quân bình, BÍ là kín đáo, bền chặt. Tức là ý nói hòa hợp với nhau _. Riêng Dương vẫn phải giữ bền bên ngoài.

(2)_. LỘ thuộc Âm, PHONG thuộc Dương ; Hàn là Âm bịnh, Nhiệt là Dương bịnh _. Bị thương về Phong, bộ phận trên bị trước ; bị thương về Thấp bộ phận dưới bị trước. Dương bịnh ở trên đi hết rồi thời quay xuống dưới, vì thế nên Xuân bị thương về Phong, mà lại thành chứng ĐÔNG TIẾT. Âm bịnh ở dưới đi hết rồi thời quay trở lên, vì thế nên Thu bị thương về Thấp, mà lại thành chứng HO. Đó là cái lẽ Âm Dương cùng trao đổi vậy. Hạ bị thương về Thử, “thử hãn” không tiết ra được, khí nóng ẩn nấp ở bên trong, tới mùa Thu âm khí phát ra gặp phải khí nhiệt, nên thành chứng NGƯỢC. Đông bị thương về Hàn, tà không phát ngay, hàn khí ẩn nấp ở bên trong, tới mùa Xuân dương khí phát ra, tà sẽ theo Dương khí mà phát nhiệt, hóa ra ÔN BỊNH (ÔN : từ gọi chứng sốt nóng vào mùa Xuân). Đó là đường lối ra vào và sự biến hóa của Âm Dương.

KINH VĂN 

Tà khí của 4 mùa lại làm thương cả 5 Tạng (1) .

Âm tinh sinh ra, gốc tự Ngũ-vị ; thần của 5 Tạng bị thương bởi năm vị (2) .

Vì vậy nên :

_ Vị nếu quá chua, Can-khí bị đẫm ướt, Tỳ-khí sẽ bị tuyệt (3) .

_ Vị nếu quá mặn, ðại-cốt nhọc mệt, cơ nhục bị sút Tâm-khí bị chèn nén (4) .

_ Vị nếu quá ngọt, Tâm-khí thở gấp và đầy ; da sạm đen, Thận-khí không yên (5) .

CHÚ GIẢI :

(1)_. Khí của 4 mùa là PHONG-HÀN-THỬ-THẤP. Câu này tỏ ra : chẳng những sự khí hóa của Âm Dương mắc bịnh, mà cả vật hữu hình là 5 Tạng cũng bị mắc bịnh, vì bịnh lâu thời truyền hóa.

(2)_. Thần khí sinh ra bởi Âm-tinh : tinh của 5 Tạng sinh ra bởi 5 vị_. thương bởi 5 vị, vì trong 5 vị có một vị “thiên thắng” nhiều hơn. TOAN sinh Can, KHỔ sinh Tâm, CAM sinh Tỳ, TÂN sinh Phế, HÀM sinh Thận. ðó là Âm-tinh sinh ra bởi 5 vị.

(3)_. Vị Toàn (chúa) vào Gần, nếu chưa quá thời Cần nhiều tân dịch nên đẫm ướt ; Cần đã bị đẫm ướt, Tỳ không chuyển dự vào đâu, nên Tỳ-khí bị tuyệt.

(4)_. ĐẠI CỐT tức là Phủ của Thận. Vị mặn quá thời thương Thận, nên ðại-cốt bị thương ; Thủy tà thịnh phạm lên Thổ (Tỳ) nên cơ nhục sút. Thủy dẫn ngược xâm lấn vào Tâm, nên Tâm-khí như bị chèn nén.

(5)_. Vị quá Ngọt, thời Thổ-khí (Tỳ) quá đầy đủ rồi. Thổ đã quá đầy đủ, thời Tâm không còn có thể truyền sang cho con nó nữa (Hỏa sinh Thổ ; Tâm là mẹ, Tỳ là con) ; vì thế nên thành chứng THỞ GẤP VÀ ĐẦY. Thận chủ về Thủy, sắc nó đen ; Thổ can
(khô ráo, quá găng) quá thời làm thương đến Thận, nên mới hiện ra ngoài da sạm đen và Thận khí không yên.

KINH VĂN 

_. Vị nếu quá đắng (KHỔ), Tỳ-khí không thấm nhuần, Vị khí sẽ quá hậu (1) .

_. Vị nếu quá cay (TÂN), gân mạch rã rời, tinh thần sẽ bị hại (2) .
Vì thế phải cẩn thận điều hòa 5 vị, khiến cho xương cứng gân mềm, khí huyết lưu thông, tấu lý sẽ bền chặc kín đáo. Như thế sẽ được vô bịnh và sống lâu
(3) .

CHÚ GIẢI :

(1)_. Đường “LẠC” của Dương-Minh thuộc Tâm, cái khí của “tử-mẫu” cùng giao thông liên lạc với nhau. Năm vị vào Vị, vị đắng dẫn lên Tâm trước. Vậy nếu quá đắng thời mẫu-khí thịnh (Tâm) và Vị sẽ cường. Vị cường thời cùng với Tỳ-âm không liên lạc nữa. Do đó Tỳ không chuyển du tân-dịch cho Vị, mất cái năng lực thấm nhuần, Vị-khí sẽ thành quá hậu (hậu : là tà khí hữu dư – có thừa).

(2)_. Kim-khí (Phế) thiên thịnh thời Can sẽ bị thương, gân mạch do ñó mà rã rời (vì Can chủ gân) mà tinh thần cũng bị hại lây….

(3)_. Thận tàng tinh mà chủ về xương, Can tàng huyết mà chủ về gân. Phong phạm vào Dương khí (tức thứ khí bảo vệ ngoài bì phú) thời cái “tà” đó sẽ làm thương đến gần, tình cũng do đó mà bị mất. Giờ biết cẩn thận điều hòa 5 vị, thời xương sẽ cứng, mà gân cũng mềm ; tấu lý do đó mà bền chặt kín đáo (tà còn phạm sao được).
đó chính là bởi Dương-khí sinh ra tự Âm-tinh mà thi hành cái nhiệm vụ, đối với bên ngoài. Người ta nếu hiểu biết được cái lẽ Âm-Dương và cái nhiệm vụ đối với bên trong và bên ngoài của nó, mà đừng làm quá nhọc mệt để hại đến Dương, cẩn thận điều hòa 5 vị để nuôi lấy Âm, thời Âm-Dương sẽ hòa bình ; còn ngại gì tật bịnh, còn lo gì không sống lâu.

Sưu tầm

Bài viết chỉ mang tính tham khảo, có thể phù hợp hoặc chưa phù hợp với ai đó, trong hoàn cảnh nào đó, tất cả chỉ để biết, để tham khảo, để sử dụng mà thôi, không dính mắc, không chối bỏ. Hãy nhìn nhận với tâm bình thản, tâm quân bình. Nguyện cho quý vị được hạnh phúc, được an lạc! 🙏
2018-03-29T09:57:50+07:00

About the Author:

Sưu tầm và chia sẻ những câu chuyện ý nghĩa, những kiến thức hữu ích cho thân và tâm.

Leave A Comment