fbpx

CHƯƠNG 4 – Kim – Quỹ chân ngôn luận(1)

KINH VĂN

Hoàng-Đế hỏi :

_. Trời có 8 thứ gió, Kinh có 5 thứ gió, là nghĩa thế nào ? (2)

Kỳ-Bá thưa :

_. Tám thứ gió nếu là “tà phong” , phạm vào Kinh tức thành kinh-phong ; nó xâm vào 5 Tạng, bịnh sẽ do đó mà phát sinh (3) .

CHÚ GIẢI :

(1)_. KIM QUỸ : là cái hòm bằng vàng ; CHÂN NGÔN : là lời nói rất đúng, chỉ bậc Thánh nhân biết đạo mới có thể nói.

(2)_. Tám thứ gió là luồng gió của 8 phương. Kinh tức là đường-kinh-mạch của 5 Tạng. Năm thứ gió là phong tà phát sinh từ 5 kinh.

(3)_. Đây nói : thứ gió đó nếu ở Trời thời là luồng gió của 8 phương ; nếu ở người thời nó sẽ biến thành tà phong của 5 kinh và 5 tạng.

KINH VĂN

Chỉ cần được cái “ sở thắng” của 4 mùa (tức là cái chủ khí, cái vượng của nó). Tỉ như Xuân thắng Trưởng-Hạ, Trưởng-hạ thắng Đông, Đông thắng Hạ, Hạ thắng Thu, Thu thắng Xuân. Đó tức là cái sở thắng của nó. (1)

CHÚ GIẢI :

(1)_. Cái sở thắng của 4 mùa như : Xuân chủ Mộc, Hạ chủ Hỏa, Trưởng-Hạ chủ Thổ (tháng 6), Thu chủ Kim, Đông chủ Thủy …. Vậy nó sẽ thắng như: Xuân thắng Trưởng-Hạ ….. (tức là khắc : Mộc khắc Thổ …..)

Bởi 5 Tạng nhân thời mà vượng nên nó mới có thể thắng cái không thắng. Tiết trên nói về 8 thứ gió phát sinh bịnh, tức là do cái “phong-sở-thắng” nó khắc cái “thời-bất-thắng”.
Tiết dưới nói được cái “khí-sở-thắng” của 4 mùa, nên mới có thể thắng được cái bất thắng.

KINH VĂN

Đông-phong sinh về mùa Xuân, bịnh phát tại CAN-DU và Cảnh-Hạng ; Nam-phong sinh về mùa Hạ, bịnh phát tại TÂM-DU và Hung-Hiếp ; Tây-phong sinh về mùa Thu, bịnh phát tại PHẾ-DU và Kiên-Bối ; Bắc-phong sinh về mùa Đông, bịnh phát tại THẬN-DU và Yêu-Cổ ; Trung ương là Thổ, bịnh phát tại TỲ-DU và Tích. (1)

CHÚ GIẢI

(1)_. Đoạn này nói về chính khí của 4 mùa, cũng có thể gây nên bịnh cho kinh-du thuộc 5 Tạng. Người ta sinh ra bởi 5 Hành, nhờ có Phong-khí (như bây giờ gọi là không-khí) mà sinh trưởng. Nhưng phong-khí dù hay sinh ra muôn vật, mà nó cũng có
thể làm hại muôn vật. Cũng như nước có thể làm nổi được thuyền, mà cũng có thể làm đắm được thuyền. Vì vậy, nên đây bắt đầu nói ngay đến Phong : khí làm hại 5 Tạng, rồi sau mới nói đến 5 Tạng nhờ ở 5 khí của 5 phương mà sinh ra -. DU là cái huyệt của kinh-khí phát sinh từ đấy.

Trên đây nói : Đông-phong sinh về mùa Xuân….. đó là nói về Tạng-khí THỰC, thời chỉ bịnh ở KHÍ, nếu Tạng khí HƯ : sẽ bịnh ở Tạng.

Từ đây trở xuống nói phân biệt thêm cho rõ : CẢNH là cổ ; HẠNG là gáy ; HUNG-HIẾP là lồng ngực và sườn ; KIÊN-BỐI là vai và lưng ; YÊU-CỔ là ngang thắt lưng và vế ; TÍCH là đường xương sống,.

KINH VĂN

Cho nên về Xuân-khí thường phát bịnh tại ĐẦU ; về Hạ-khí thường phát bịnh tại TẠNG ; về Thu-khí thường phát bịnh tại KIÊN BỐI ; về ðông-khí thường phát bịnh tại TỨ-CHI. (1)

CHÚ GIẢI

(1)_. KHÍ : tức là chỉ về khí của 4 mùa và 5 Tạng. Can du ở Cảnh-Hạng, mà mùa Xuân phát bịnh tại đầu  là vì Xuân khí thời thăng lên, Dương-khí cũng ở về bộ phận trên. Cho nên nếu bịnh về khí thời phát tại trên ; nếu “bịnh về Kinh” thời phát bịnh phát tại cảnh-hạng. Vì thế nên dưới đây có chỗ nói về bịnh tại khí, có chỗ nói về bịnh tại kinh v.v…. đều là phân biệt hư-thực của Tạng-khí và Kinh-du vậy.

Mùa Hạ Dương-khí phát tiết ra ngoải, Tạng-khí bị hư ở bên trong, nên phong-khí thừa mà phạm vào Tạng. Thu-khí chủ về sự thâu giáng, không thể bảo vệ được bì-phu, cơ-tấu ; nên phong-khí mới phạm vào Du. Tứ chi là nơi gốc của khí Dương. Đông khí ẩn nấp vào bên trong, dương khí bị hư ở bên ngoài, nên mới phát bịnh tại TỨ CHI.
Trở lên, nói về cái khí của 4 mùa và 5 Tạng.

KINH VĂN

Cho nên mùa Xuân thường hay sinh bịnh TỴ-NỤC ; tháng Trọng-Hạ (tháng5) thường hay sinh bịnh ĐÔNGTIẾT, HÀN-TRUNG (đi tả và lạnh ở bên trong). Mùa Thu hay sinh bịnh PHONG-NGƯỢC ; mùa Đông thường hay sinh bịnh TÝ, QUYẾT (tê đau và giá lạnh tay chân). (1)

CHÚ GIẢI

(1)_. Trên đây thường hay dùng 2 chữ “thường hay” là nói về Kinh-du của 5 Tạng đều ở bộ phận ngoài, PHONG làm thương cơ- tấu thời dể lọt vào kinh.- TỴ-NỤC tức đổ máu cam (máu chảy ra ở mủi) vì bịnh tại đầu nên Tỵ-nục. Kinh-du của Tâm ở Hung-hiếp nên bịnh tại đấy.

CHU-TẾ-CÔNG hỏi : “Chỉ nói bịnh ở Hung-hiếp mà không nói chứng trạng, là vì sao ?
-. Đáp : Về 3 đoạn trên và dưới đây đều phản phúc biện luận về sự “xuất, nhập“ của Tạng-khí và Kinh-du, cho nên chỉ nói “bịnh tại đầu, tại tạng, tại kiên-bối và hung-hiếp v.v….. mà không nói là bịnh gì ; đến như các chứng tỵ-nục, ñông-tiết …. là nói về bịnh thuộc kinh mà tại đầu thời có chứng tỵ-nục, bịnh thuộc kinh mà tại phúc thời có chứng đông-tiết và hàntrung…. Tuy nhiên, mấy đoạn đây vẫn không chú trọng về chứng trạng.

Mùa Hạ, Dương khí ở bên ngoài, nên Lý-khí hư hàn. Tháng Trưởng-hạ Thấp-Thổ chủ khí, phong lọt vào kinh-du, tức phạm vào trong mà thành chứng đông-tiết, đó là “phong Mộc thừa hư mà thắng Thổ“.-. Tỳ là một chí âm ở trong âm không thể
hóa được nhiệt nên mới thành chứng hàn-trung.

Mùa Thu, dương khí thâu liễm vào bên trong, âm khí dẫn ra bên ngoài. Tà với chính gặp nhau ở khoảng “NỘI với NGOẠI“ giao tiếp, hai bên cùng xung ñột lẫn nhau thành chứng PHONG-NGƯỢC (sốt-úi).

Tứ chi là gốc của mọi khí Dương. Mùa Đông dương khí ẩn nấp ở bộ phận dưới, khiến cho kinh khí bị hư ở bên ngoài. Bị phong lọt vào kinh, nên tứ chi mắc chứng QUYẾT.
Trở lên nói về bịnh tại “KINH, LẠC”.

KINH VĂN

Cho nên về mùa Đông, nếu biết giữ gìn cẩn thận, không để cho Dương khí quá háo tán ra ngoài, thời sang Xuân sẽ không bị các chứng như Tỵ-nục và bịnh ở Cảnh-hạng ; Trọng-Hạ không bị bịnh ở hung-hiếp ; Trưởng-Hạ không bị Đông-tiết, hàn-trung ; Thu không bị phong-ngược ; Đông không bị Tý-quyết và sôn-tiết hãn-xuất. (1)

CHÚ GIẢI

(1)_. Đoạn này nói thêm : nếu giữ ñược Dương khí bền bĩ thời 4 mùa kinh-du không bị mắc bịnh.

Lại nói thêm 2 chứng sôn-tiết và hãn-xuất để tỏ cho người ta biết rằng : con người nếu hay bảo trọng và giữ gìn cái khíNguyên-chân, thì không khi nào tà khí còn phạm được vào kinh mạch mà gây bịnh tại bên trong là sôn-tiết ; cũng không khinào phạm được vào Dương khí mà gây nên bịnh ở bên ngoài là hãn-xuất vậy.

KINH VĂN

Nghĩ như TINH là cái gốc của sinh mệnh con người. Cho nên người biết tàng tinh (giữ gìn, dè dặt) thời mùa Xuân không mắc bịnh ÔN. Về mùa Hạ, nếu thử hãn (nắng nực ra mồ hôi) không tiết ra được, sang Thu sẽ thành bịnh PHONG-NGƯỢC v.v…. đó là mạch pháp của bình-nhân (người thường, vô bịnh). (1)

CHÚ GIẢI

(1)_. Thần khí với huyết mạch sinh ra bởi Tinh, cho nên nói : “TINH là gốc của sinh mệnh”. Biết tàng ñược tinh, thời huyết khí giữ bền ở bên trong, còn tà nào phạm được vào bên ngoài, cho nên không mắc phải bịnh Ôn _. Về mùa Hạ cần phải có thử-hãn, nếu thử hãn không tiết ra được, đến mùa Thu gặp tiết thâu tàng, hai khí xung đột nên mới sinh chứng Phong-ngược. Thiên này chuyên bàn về KINH-MẠCH, nên đây nói là mạch pháp của bình nhân.

KINH VĂN

Cho nên nói rằng trong Âm có Âm, trong Dương có Dương.

– Từ sáng sớm đến đúng trưa là Dương trong Dương ;

– Từ đúng trưa đến hoàng hôn là Âm ở trong Dương ;

– Từ chập tối đến gà gáy là Âm ở trong Âm ;

– Từ gà gáy đến sáng sớm là Dương ở trong Âm ;

Tấm thân của con người cũng ứng theo như vậy. (1)

CHÚ GIẢI

(1)_. Từ gà gáy đến sáng sớm Dương khí mới phát triển, ứng với cái khí Xuân sinh, cho nên thuộc về Dương ở trong Âm ; Từ sáng sớm đến đúng trưa, Dương khí đương lúc thịnh, ứng với cái khí Trưởng-hạ, cho nên thuộc về Dương ở trong Dương ; từ đúng trưa đến hoàng-hôn, Dương khí mới bắt đầu suy, ứng với cái khí mùa Thu, cho nên thuộc về Âm ở trong Dương ; từ chập tối đến gà gáy, Dương khí thu về bên trong ứng với mùa Đông, cho nên thuộc về Âm ở trong Âm.

– Cho nên nói rằng : trong một ngày cũng có 4 mùa, mà cái khí Âm Dương ở con người “xuất nhập” trong một ngày cũng có 4 mùa. Vì thế nên mạch pháp của bình nhân cũng ứng theo vậy.

KINH VĂN

Nói về Âm Dương thuộc con người thời : ngoài là Dương, trong là Âm ; nói riêng về tấm thân con người thời : sau lưng là Dương, trước bụng là Âm. Nói về Âm Dương Tạng-phủ trong con người thời Tạng là Âm, Phủ là Dương. Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận là 5 Tạng đều thuộc Âm (1) . Đởm, Vị, Đại-trường, Tiểu-trường, Bàng-quang, Tam-tiêu là 6 Phủ đều thuộc Dương. (2)

CHÚ GIẢI

(1)_. Thiên này bắt đầu nói đến đường lối của kinh-mạch. Kinh mạch bên trong liền với Tạng-phủ, bên ngoài chằng khắp thân hình. _. Âm Dương ra vào, trong ngoài tuần hoàn. Vì thế nên bao tác dụng “ sinh, trưởng, thâu, tàng” đều ứng theo với mạch pháp của con người.

. Trong thân con người, ĐỐC-MẠCH dẫn lên lưng,cai quản toàn thể khí Dương. Trong thân hình, NHÂM-MẠCH vòng lên bụng cai quản toàn thể khí Âm … nên mới nói : “lưng là Dương, bụng là Âm…..”

(2)_. Kinh mạch sinh ra bởi 5 Hành thuộc Đất, ứng với 6 khí thuộc Trời ….. cho nên phàm nói về kinh-mạch trước phối hợp với 5 tạng, 5 hành, rồi sau mới bàn tới 6 phủ.

KINH VĂN

Sở dĩ muốn biết Âm ở trong Âm, Dương ở trong Dương là vì : mùa Đông bịnh tại Âm, mùa Hạ bịnh tại Dương, mùa Xuân bịnh tại Âm, mùa Thu bịnh tại Dương…. Biết được bịnh tại đâu, có thể dùng CHÂM-THẠCH để điều trị. (1)

CHÚ GIẢI

(1)_. Đông bịnh tại Thận ; Thận là Âm ở trong Âm, nên nói “Đông bịnh tại Âm” ; Đông bịnh tại Thận ; Thận là Âm ở trong Âm, nên nói “Đông bịnh tại Âm” ; Hạ bịnh tại Tâm ; Tâm là Dương ở trong Dương, nên nói “Hạ bịnh tại Dương” ; Xuân bịnh tại Can ; Can là Dương ở trong Âm, nên nói “Xuân bịnh tại Âm” ; Thu bịnh tại Phế ; Phế là Âm ở trong Dương, nên nói “Thu bịnh tại Dương”. Châm-thạch là thứ dùng để chữa bịnh tại kinh-mạch. Biết được Âm trong Âm, Dương trong Dương, thế nào rồi, mới nhằm vào kinh-du của 5 Tạng, dùng châm thạch để điều trị.

KINH VĂN

Cho nên lưng thuộc Dương, mà Dương ở trong Dương, tức là TÂM, nếu Âm ở trong Dương tức là PHẾ. Phúc (bụng) thuộc Âm, mà Âm ở trong Âm, tức là THẬN, nếu Dương ở trong Âm lại là CAN. Phúc thuộc Âm, nếu Chí-Âm ở trong Âm lại là TỲ.(1) Đó đều là sự du-ứng của Âm-Dương, Biểu-lý, Nội-ngoại, Tạng-Phủ vậy.

CHÚ GIẢI

(1)_. VƯƠNG THỊ nói : TÂM thuộc về Dương-tạng, bộ vị nó thuộc về thượng-tiêu ; Dương ở vào địa vị của Dương, nên nói là “Dương ở trong Dương” ; PHẾ thuộc về Âm-tạng, bộ vị nó ở vào Thượng-tiêu ; Âm ở vào địa vị Dương, nên nói là “Âm ở trong Dương”. THẬN thuộc Âm tạng, bộ vị nó ở vào Hạ-tiêu, Âm ở vào địa vị Âm, nên nói là “Âm ở trong Âm”. CAN thuộc vào Dương-tạng, bộ vị nó ở vào Hạ-tiêu, Dương ở vào địa vị Âm, nên nói là “ Dương ở trong Âm”. TỲ thuộc vào Âm-tạng, bộ vị nó ở vào Trung-tiêu, Thái-âm ở vào địa vị Âm, là “Chí-âm ở trong Âm”.

KINH VĂN

Hoàng-Đế hỏi :

– Năm Tạng ứng với 4 mùa, vậy có sự thâu-thụ (tiếp nhận, liên lạc) gì không ? (1)
Kỳ-Bá thưa :

– Có. Đông phương sắc XANH, thông vào Can, khai khiếu lên mắt, tàng tinh ở CAN (2) : phát ra bịnh KINH SỢ (3) . Về vị là CHUA, thuộc về loài thảo mộc (4) . thuộc về lục-súc là GÀ (5) ; thuộc về ngũ-cốc là LÚA MẠCH (6) ; thuộc về 4 mùa trên ứng với TUẾ-TINH (7) ; xuân-khí thuộc về bộ phận ðẦU (8) ; về âm (thanh) là tiếng GIÁC (9) ; thuộc về số
là số 8 (10) ; thuộc về mùi (hơi ngửi thấy) là SÚ (mùi hôi) (11) _. Do đó biết là thường phát sinh bịnh ở GÂN (Can chủ gân) (12) .

CHÚ GIẢI

(1)_. Ý nói 5 Tạng đã ứng với Âm Dương 4 mùa, vậy phải có khí sắc gì để hợp với khí sắc của 5 phương và Âm Dương của 4 mùa v.v….

(2)_. Tinh khí của Can khai khiếu lên mắt, mà lại thông với Thiên-khí. Đó tức là Trời thông với người, mà người lại thông với Trời. Còn Âm tinh thời lại tàng về chính Tạng của nó.

(3)_. Mùa Xuân Dương khí bốc lên, nên bịnh phát sinh cũng có vẻ chẩn đãng mà thành kinh sợ.

(4)_. Can thuộc Mộc, với thảo mộc cùng một loài.

(5)_. Kê : gà, thuộc quẻ TỐN, chủ về phương Đông.

(6)_. Mạch : một thứ đứng hàng đầu ngũ-cốc, nên ứng về Đông-phương.

(7)_. Tinh khí của Mộc ứng lên Tuế-tinh.

(8)_. Giác : là một âm thuộc về Mộc, ứng về mùa Xuân.

(10)_. DỊCH nói: “Thiên cho số 3 sinh ra Mộc, Địa do số 8 mà hợp thành, nên nói số của Can là 8”.

(11)_. Hôi : một thứ khí thuộc Mộc.

(12)_. Can chủ gân nên bịnh tại gân.

* . Ngũ âm, ngũ số ứng theo với khí vô hình của Trời. Bì, nhục, gân, xương ứng theo với cái hữu-hình của Đất. Lấy cái ứng vô hình của Trời mà sinh bịnh tới cái hữu hình là gân xương của người, đó là do sự khí hóa giao cảm mà nên _. Âm tinh của 5 Tạng, nhờ Tâm thần nó hóa ra sắc đỏ mà thành máu. Ở đây bàn về huyết mạch của Tạng phủ, nên nói : “tàng tinh ở CAN”.

KINH VĂN

Nam-phương sắc ĐỎ, thông vào với TÂM, khai khiếu lên TAI, tàng tinh ở TÂM (1) . Bịnh phát sinh ở cả 5 Tạng (2) ;về vị là ĐẮNG và thuộc về HỎA (3) , thuộc về lục-súc là DÊ, thuộc về ngũ cốc là THỬ (4) , thuộc về 4 mùa trên ứng với sao HUỲNH-HOẶC (5) ,thuộc về âm thanh là tiếng CHỦY (6) , thuộc về số là số 7 (7) , thuộc về mùi là
mùi HẮC (8) _. Do đó biết là thường sinh bịnh ở MẠCH (9) .

CHÚ GIẢI

(1)_. Tâm thuộc Hỏa nên cũng sắc Đỏ.

_ TÀ KHÍ TẠNG PHỦ LUẬN nói : bao khí huyết ở 12 kinh mạch với 365 lạc ….. đều dẫn lên mặt rồi chạy ra không-khiếu (lỗ hổng, chổ rỗng), riêng một thứ khí khác chạy ra tai để làm thành sự “nghe” _. “BIỆT-KHÍ” tức là khí của Tâm.

(2)_. Bịnh… ở cả 5 Tạng, tức là chỉ về các khí của 5 Tạng. Tâm là một cơ quan chủ tể cả 5 Tạng 6 Phủ, cho nên Tâm khí mắc bịnh, thời khí của các Tạng khác cũng đều mắc bịnh.

(3)_. ĐẮNG là vị của Hỏa. Tâm khí thông với Nam-phương, nên cùng với hành Hỏa ở trong Ngũ-hành cùng loài

(4)_. THỬ : là một thứ lúa có sắc đỏ, mà tính ÔN (ấm) nên là thứ lúa của Tâm.

(5)_. HUỲNH HOẶC là “ tinh” của Hỏa.

(6)_. CHỦY là một âm thuộc Hỏa, ứng về mùa Hạ.

(7)_. Dịch nói : Thiên do số 2 sinh ra Hỏa, Địa do số 7 mà hợp thành, nên nói : “số của Tâm là 7”.

(8)_. Khí bị hỏa đốt cháy, thời thành mùi HẮC. Nguyên chữ Hán là “TIÊU”.

(9)_. Tâm chủ về mạch, nên bịnh tại MẠCH.

KINH VĂN

Trung ương sắc VÀNG thông vào với TỲ, khai khiếu lên miệng. Tàng tinh ở Tỳ (1) . Bịnh phát sinh ở cuống lưỡi (2) , về vị là NGỌT, và thuộc về THỔ (3), thuộc về lục-súc là BÒ (4) , thuộc về ngũ-cốc là TẮC (5) , thuộc về 4 mùa, trên ứng với sao CHẨN (6) , thuộc về âm là CUNG (7) , thuộc về số là NĂM (8) , thuộc về mùi là mùi THƠM (9) _.
Do đó biết là thường sinh bịnh tại NHỤC (thịt) (10) .

CHÚ GIẢI

(1)_. Thổ vượng về cuối 4 mùa, bộ vị ở vào khoảng giữa, TỲ thuộc về Thổ-tạng, nên khí cũng thông nhau.

(2)_. LINH-KHU nói : “Tỳ chủ về việc đón tiếp lương thực, lấy miệng lưỡi để biện-biệt sự yêu ghét và cát-hung” Xem đó thời biết Tỳ-khí thông lên LƯỠI.

(3)_. Tỳ thuộc Thổ, không có vị, lấy vị của lúa nên vị NGỌT. Thuộc hành Thổ ở trong ngũ-hành.

(4)_. BÒ: nguyên chữ Hán là “ngưu”. Còn về trâu : nguyên chữ Hán là “thủy ngưu”. Bò sắc Vàng nên là giống nuôi của Tỳ.

(5)_. Lúa Tắc sắc vàng, vị ngọt, nên cũng thuộc Tỳ.

(6)_. Sao CHẨN thuộc Thổ.

(7)_. Tiếng CUNG thuộc Thổ.

(8)_. DỊCH : Thiên lấy số 5 sinh ra THỔ, ðịa lấy số 10 mà hợp thành. Thổ chuyên ở ngôi “NĂM”, nên riêng chủ về sinh-số”.

(9)_. Khí nhân Thổ biến, thành mùi Thơm.

(10)_. Tỳ chủ cơ-nhục, nên sinh bịnh tại NHỤC.

KINH VĂN

Tây-phương sắc TRẮNG, thông vào với phổi, khai khiếu ở MŨI, tàng tinh ở PHẾ (1) . Bịnh phát sinh ở VAI, về vị là CAY (tân) và thuộc về KIM (2) , thuộc về lục-súc là NGỰA (3) , thuộc về ngũ-cốc là ĐẠO (4) , thuộc về 4 mùa trên ứng với sao THÁI-BẠCH (5) , thuộc về âm là THƯƠNG (6) , thuộc về số là số 9 (7) , thuộc về mùi là mùi TANH (8) _. Do đó biết là thường sinh bịnh tại BÌ-MAO (9) .

CHÚ GIẢI

(1)_. Phế thuộc Kim, nên theo sắc Trắng của Tây-phương, MŨI là khiếu của Phế.

(2)_. Cảm thụ khí sinh bịnh tại VAI và LƯNG.

(3)_. Quẻ CÀN thuộc Ngựa, Phế thuộc CÀN-KIM.

(4)_. Đạo : sắc trắng, nên là thứ lúa của Phế-Tỳ cốc.

(5)_. Tinh khí của loài Kim, ứng lên sao Thái-bạch.

(6)_. THƯƠNG : một thứ tiếng chủ về phương Tây.

(7)_. DỊCH : “Địa lấy số 4 sinh ra KIM, Thiên lấy số 9 mà hợp thành, nên Phế là số 9.”

(8)_. Khí nhân Kim biến thành mùi TANH.

(9)_. Phế chủ Bì-mao, nên biết là bịnh tại BÌ-MAO.

KINH VĂN

Bắc-phương sắc ĐEN, thông vào với THẬN, khai khiếu ở NHỊ-ÂM (tiền âm, hậu âm), tàng tinh ở THẬN (1) . Bịnh phát sinh ở KHÊ (2) , về vị là MẶN (hàm) và thuộc về THỦY (3) , thuộc về lục-súc là LỢN (4) , thuộc về ngũ-cốc là ĐẬU (5) , thuộc về 4 mùa trên ứng với sao THẦN (6) , thuộc về âm là VŨ (7) , thuộc về số là số 6 (8) , thuộc về mùi là
mùi HÚC-MỤC (9) _. Đó biết là thường sinh bịnh tại XƯƠNG (10) .

CHÚ GIẢI

(1)_. Thận thuộc THỦY, nên theo sắc ĐEN của Bắc-phương, bộ vị của Thận ở dưới nên khai khiếu ra Nhị-âm.

(2)_. Chỗ đại hội của nhục gọi là “cốc”, chổ tiểu hội của nhục gọi là “khê” _. Đại hội, tiểu hội tức là nơi khớp xương nhỏ liên lạc với nhau, một làn thịt mỏng bao bọc ngoài xương tức là KHÊ. Thận vốn chủ xương, mà Khê là do khí của Cốc sinh ra.

(3)_. MẶN là nguyên chất của nước (thủy).

(4)_. LỢN sắc đen, thuộc HỢI, nên là giống nuôi của Thận.

(5)_. ĐẬU ĐEN sắc đen, tính trầm xuống, nên là Thận-cốc.

(6)_. Thận tinh thuộc THỦY.

(7)_. VŨ : một thứ tiếng thuộc THỦY.

(8)_. Thiên lấy số 1 sinh ra Thủy, Địa lấy số 6 mà hợp thành, nên số 6 thuộc THẬN.

(9)_. HÚC-MỤC : mùi thối nát.

(10)_. Thận chủ về xương, nên bịnh tại XƯƠNG.

KINH NÓI : Can sinh cân, Tâm sinh huyết, Tỳ sinh nhục, Phế sinh bì-mao, Thận sinh cốt ….. Vậy cân, cốt, bì mao….. đều do 5 Tạng sinh ra, nên Tạng nào mắc bịnh thì cái sinh ra cũng mắc bịnh.

KINH VĂN

Vậy nên người giỏi về xem mạch : phải xét rõ sự “nghịch tòng” của 5 Tạng, 6 Phủ và cái giềng mối của ÂmDương, Biểu-lý, Tạng-phủ…. ghi nhớ ở trong tâm-ý, hợp với tinh thần sẽ biết được rõ rệt, khỏi phải hồ đồ, thế là đắc đạo.

Đoạn này nói tổng kết cái đường lối của kinh mạch, sinh ra ở 5 Tạng, liên lạc với 6 Phủ, ngoài hợp với 5 Phương, 5 Hành và ÂmDương 6 khí. Trái với 4 mùa là “NGHỊCH”, thuận với 4 mùa là “TÒNG”.

Sưu tầm

Bài viết chỉ mang tính tham khảo, có thể phù hợp hoặc chưa phù hợp với ai đó, trong hoàn cảnh nào đó, tất cả chỉ để biết, để tham khảo, để sử dụng mà thôi, không dính mắc, không chối bỏ. Hãy nhìn nhận với tâm bình thản, tâm quân bình. Nguyện cho quý vị được hạnh phúc, được an lạc! 🙏
2018-03-30T14:42:31+07:00

About the Author:

Sưu tầm và chia sẻ những câu chuyện ý nghĩa, những kiến thức hữu ích cho thân và tâm.

Leave A Comment