fbpx

CHƯƠNG 6 – Âm – Dương ly hợp luận (1)

KINH VĂN

Hoàng-Đế hỏi rằng :

— Trẩm nghe : Trời là Dương, Đất là Âm ; Nhật là Dương, Nguyệt là Âm. Hợp cả tháng đủ tháng thiếu, cộng 360 ngày, thành một năm. Con người cũng ứng theo vậy. Nay xét về 3 kinh âm, 3 kinh dương, lại có khi không tương ứng là vì sao ?

Kỳ-Bá thưa rằng :

— Về cái lẽ âm dương, lúc bắt đầu, đếm có thể đến số 10, suy ra có thể tới số 100, do 100 đếm tới 1.000, do nghìn đếm tới vạn … Rồi đếm không thể đếm. Nhưng về cốt yếu, vẫn chỉ có “một” (2).

(1)-. Âm tức là âm-kinh, Dương tức là dương-kinh.

Trong thiên này nói về sự ly hợp của 3 kinh dương, 3 kinh âm thuộc về THỦ (tay) ; 3 kinh dương, 3 kinh âm thuộc về TÚC (chân). Cùng với khí âm dương của trời đất có tương quan với nhau nên đặt ra tên thiên.

TRƯƠNG-ẨN-AM nói: thiên này cùng thiên CÂN-KẾT ở kinh LINH-KHU cùng làm biểu lý.

(2)-. Ba kinh âm, ba kinh dương của Hoàng-Đế hỏi đây là chỉ về cả các kinh thuộc Thủ và các kinh thuộc Túc mà nói :

Theo ý Kỳ-Bá : “âm dương chỉ là một vật chỉ có danh mà không có thực hình, không thể sao đếm được. Nhưng cái cốt yếu chỉ có “một” mà thôi.”

DỊCH nói: “một Âm, một Dương gọi là ĐẠO” (Nhất Âm, Nhất Dương chi vị Đạo)

MẠC-TỬ-TẤN nói : “trời đất định vị, nhật nguyệt vận đi, hàn thử thay đổi, âm dương ra vào… đều do một khí THÁI-CỰC sinh ra”.

KINH VĂN

Trời che đất chở muôn vật mới sinh. Khi chưa tiết ra khỏi mặt đất mệnh danh là Âm-sử, tức là âm ở trong âm. Khi đã tiết ra khỏi mặt đất, mệnh danh là dương ở trong âm (1) .

Dương phát triển ra chính-khí, âm đứng vào địa vị chủ trì (2) . Nhờ đó sự sinh phát triển ở mùa Xuân, sự trưởng phát triển ở mùa Hạ, sự thâu phát triển ở mùa Thu, sự tàng phát triển ở mùa Đông. Nếu trái lẽ thường đó, khí 4 mùa của trời đất sẽ bị vít lấp (3) .

Vậy cái lẽ biến của âm dương, hợp với thể chất của con người, cũng có thể đếm mà biết được (4) .

(1)-. Có trời đất rồi mới có muôn vật. Nhưng trời đất hóa dục muôn vật đều phải do sự “xuất, nhập” cùa khí âm dương trong 4 mùa, rồi mới có thể phát triển được cái công năng “sinh, trưởng, thâu, tàng” để làm chung thủy cho muôn vật. Khi khí đó chưa tiết ra khỏi mặt đất, mệnh danh là “âm-sử” (sử là ở) tức là còn ở tại trong âm, nên gọi là “âm ở trong âm”. Tới khi đã ra khỏi mặt đất là dương, đáng lẽ phải gọi là “dương sử” , nhưng dù sao dương cũng không lìa được âm nên mới gọi là dương ở trong âm.

(2)-. Dương có phát triển chính khí, muôn vật mới nhờ đó mà sinh sôi nảy nở. âm có ở bên trong giữ cái nhiệm vụ chủ trì, thời muôn vật cũng mới hoàn toàn thành lập được.

(3)-. Câu này nói: sự “xuất, nhập” của địa-khí có thể nhân cái 4 mùa của thiên-khí đã thi hành cái công năng sinh, trưởng, thu, tàng. Đó là cái lẽ thường về sự ly hợp của âm dương. Nếu trái lại, sẽ bị nguy biến ngay.

(4)-. Đây nói về cái biến của âm dương có thể dự tính được, thời ở con người sự biến dù có phức tạp đến đâu cũng có thể lường được.

Án : HOÀNG-CỰC-KINH-THẾ Thư của THIỆU-TỬ nói : “ Dương không thể độc lập, phải đợi có âm rồi mới lập, nên dương lấy âm làm nên tảng ; Âm không thể tự phát hiện, phải đợi có dương rồi sau mới phát hiện, nên âm lấy dương dẫn đường …” ý nghĩa cũng tương tự như đây.

KINH VĂN

Hoàng-Đế nói rằng :

— Xin cho biết sự ly hợp của 3 kinh âm, 3 kinh dương.

Kỳ-Bá thưa rằng :

— Thánh nhân ngoảnh mặt sang phương Nam để trị dân (1) , phía trước gọi là QUẢNG-MINH (2) phía sau gọi là THÁI-XUNG.

Cái nơi phát sinh ra Thái xung, gọi Thiếu-âm (Thận), phía trên Thiếu âm gọi là Thái-dương (tức Bàng-quang). Thái dương gốc phát khởi từ Chí-âm, kết ở Mệnh-môn, gọi là Dương ở trong Âm (3) .

Từ khoảng giữa mình trở lên, gọi là Quảng-minh (4) . Phía dưới Quảng minh là Thái-âm (5), phía trước Thái-âm là Dương-minh (6). Dương-minh gốc phát khởi từ Lệ-đoài, gọi là Dương ở trong Âm (7)

Về “biểu” của Quyết-âm là Thiếu-dương. Thiếu-dương gốc phát khởi từ Khiếu-âm, gọi là Thiếu-dương ở trong Âm (8) .

Xem đó thời biết : sự ly hợp của 3 kinh Dương : Thái-dương là KHAI (mở), Dương-minh là HẠP (đóng), Thiếu-dương là KHU (cối cửa) (9) .

Ba kinh đó không nên để trái ngược nhau. “bác” mà không “phù” mệnh danh là NHẤT DƯƠNG (10) .

(1)-. Chữ Thánh-nhân ở đây là dùng một danh từ tôn trọng đối với vua mà nói. Nhưng lại mượn đó để nói ví vào thân thể con người.

(2)-. QUẢNG-MINH tức là TÂM, Tâm bộ vị chủ về Nam-phương, nam phương thuộc Hỏa, dương khí sáng tỏ nên gọi là Quảng-minh (rộng sáng) ; một danh từ hình dung và giả tá.

Ở đây phàm nói đến chữ “trước” tức là chỉ về bộ phận trên là Nam-phương. Trong con người lấy Tâm-Hung là trước là Nam-phương, lấy Yêu-Thận làm sau là phương Bắc. Thái-xung là nguồn gốc của Âm-huyết, bộ vị tại Hạ-tiêu, dẫn lên phía sau lưng.

(3)-. Đường mạch của kinh Thái-dương phát khởi từ huyệt CHÍ-ÂM tại ngón chân út, rồi gi­ao kết tại huyệt MỆNH-MÔN (tức là mắt). Đây là nói về Dương kinh thuộc TÚC THIẾU-ÂM.

— Thiếu-âm với Thái-dương “hợp” – Dương phát từ Âm cho nên ở phía trên Âm.

(4)-. Nửa người trở lên, Thiên-khí làm chủ ; nửa người trở xuống Địa-khí làm chủ. Dương phát từ Âm, do bộ phận dưới mà lên, cho nên nói : “từ giữa người trở lên gọi là Quảng-minh”. — Ở trên lấy phía trước làm Dương ; đây lại lấy từ giữa người trở lên làm Dương.

(5)-. Thái-âm chủ về Trung-thổ, mà là một cơ quan Chí-âm ở trong Âm, cho nên bộ vị ở dưới Quảng-minh.

(6)-. Thái-âm (Tỳ) với Dương-minh (Vị) “hợp” đều chủ về Trung-thổ nên bộ vị ở trước Thái-âm.

(7)-. LỆ-ĐOÀI là tên huyệt, huyệt này ở đầu chỗ ngón chân cái và ngón chân trỏ giáp nhau. Mạch của Dương-minh khởi thủy từ đó.

(8)-. Trên kia, vì cái khí của Thái-dương ở trên cho nên nói : “phía trên Thiếu-âm” ; Dương-minh ở vào khoảng hai khí dương, mà lại ở vào Trung-thổ, cho nên nói : “phía trước Thái-âm”.

— Quyết-âm ở vào nơi cùng cực của âm, âm cực ở vào “lý”, mà lại sinh ra Dương ở “biểu”, cho nên gọi là phần biểu của Quyết-âm.

— Vì lấy trước, lấy trên, lấy biểu làm Dương ; mà như gọi là “trên, trước, biểu” tức là nói về cái khí của 3 kinh Dương –. Còn như : Chí-âm, Lệ-đoài, Khiếu-âm… đều là kinh mạch của 3 kinh dương.

— Mười hai kinh mạch thuộc về “THỦ và TÚC” , chủ về cái khí của 3 kinh Âm, 3 kinh Dương. — . Đối với kinh mạch thời chia ra “tam âm, tam dương”. Đối với khí trong mạch bật nổi lên thời gọi là “Nhất âm, Nhất dương”.

— Quyết-âm tức là CAN ; Thiếu-dương tức là ĐỞM.

(9)-. Cái khí âm-dương, chia ra làm “tam âm, tam dương” cho nên mới có cái nghĩa “KHAI, HẠP và KHU” – tức là tỉ như cửa, có mở đóng, và cái “cối cửa” (tức là cái để cho cánh cửa xoay ra xoay vào) – Thái-dương (Bàng-quang : bọng đái) là một địa vị Cự-dương (khí dương lớn. nhiều) ; chuyên chứa đựng Dương-khí nên chủ về “KHAI”. Dương-minh ở vào khoảng 2 kinh dương, nên chủ về “HẠP”. Thiếu-dương là một nơi khí mới bắt đầu phát ra, nên chủ về “KHU”.

— Không có “KHU” thời không có gì lập được, không có “HẠP” thời không thể dung vào ; không có “KHAI” thời không thể phát ra…

Xem đó thời biết : dù có “LY” nhưng tất phải có “HỢP”.

(10)-.Vậy nên, nếu bỏ “KHU” thời không thể “KHAI-HẠP” được, hoặc bỏ “KHAI-HẠP” thời còn gì là “chuyển KHU”. Nên về 3 kinh đó không thể để cho tương thất. Nói về mạch, vì thuộc Dương cân phải “PHÙ”, nhưng không thể quá phù. Dù có chia là 3 Dương nhưng cũng không thể vì sự “chia” đó mà thành ra thế khác ; vì rút lại chỉ có “NHẤT DƯƠNG” mà thôi.

— Nói Nhất-dương tức là nói mạch đều thuộc Dương. Trở lên nói về sự “LY-HỢP” của 3 kinh Dương.

KINH VĂN

Hoàng-Đế hỏi:

— Xin cho biết sự ly-hợp của 3 kinh Âm ?….

Kỳ-Bá thưa :

— Ở bên ngoài là Dương, ở bên trong là Âm (1) . Vậy ở bộ phận giữa là Âm, mạch Thái-xung ở về phía dưới nên gọi là Thái-âm (2) .

Thái-âm gốc phát khởi tự ẨN-BẠCH gọi là Âm ở trong Âm (3), phía sau Thái-âm là Thiếu-âm (Thận). Thiếu-âm phát khởi tự DŨNG-TUYỀN, gọi là Thiếu-âm ở trong Âm (4)

Phía trước Thiếu-âm gọi là Quyết-âm (5) . Quyết-âm gốc phát khởi tự ĐẠI-ĐÔN. Đó là “tuyệt Dương” trong Âm-kinh và gọi là “tuyệt Âm” (6) .

Do đó sự ly hợp của 3 kinh Âm : Thái-âm là KHAI, Quyết-âm là HẠP, Thiếu-âm là KHU (7) .

Ba kinh đó không nên để trái ngược nhau “BÁC” mà chớ “TRẦM” mệnh danh là”NHẤT ÂM” (8).

(1)-. Dương-khí “xuất” để chủ về bên ngoài ; Âm-khí “thăng” mà chủ về bên trong.

(2)-. Hai khí âm dương đều phát xuất từ dưới. âm khí xuất mà ở bên trong, vì thế nên ở bên trong là Âm. Mà cái mạch để xuất phát là THÁI-XUNG lại ở dưới mà “xung” lên trên, nên gọi là Thái-Âm. Xung mạch là gốc của 12 kinh, cho nên 3 âm, 3 dương đều lấy XUNG-MẠCH làm chủ.

(3)-. Huyệt ẨN-BẠCH ở đầu ngón chân cái – Thái-âm là chí âm ở trong Âm.

(4)-. Huyệt DŨNG-TUYỀN ở tại dưới lòng (gan) bàn chân. Thiếu-âm là cái khí “nhất âm sơ sinh”, cho nên gọi là Thiếu-âm ở trong Âm.

(5)-. Thiếu-âm chủ về THỦY, Quyết-âm chủ về MỘC, sinh từ Thủy, cho nên nói : “Thiếu-âm ở về phía trước”.

(6)-. Huyệt ĐẠI-ĐÔN tại khớp Ngọc-Đường ở ngón chân cái ; tức là nơi phát sinh của Túc Quyết-âm CAN-kinh. Về kinh này là một kinh tuyệt-dương. Tức là hết hẳn không còn có Dương, là thuần âm. “tuyệt âm” là hoàn toàn thuần âm. Nghĩa chữ “tuyệt” là hoàn toàn hết thảy.

(7)-. Thái-âm là một nơi đầy nhiều khí âm, nên chủ KHAI ; Quyết-âm là một nơi “gi­ao-tận”—đều hết—của khí âm, nên chủ HẠP ; Thiếu-âm là một nơi khí Nhất-dương bắt đầu sinh ra, nên chủ về KHU.

(8)-. Dương-khí chủ về “PHÙ” , nên nói “chớ quá PHÙ ” ; Âm khí chủ về “TRẦM” nên nói “chớ quá TRẦM”. Bởi cái khí của 3 kinh Dương KHAI-HẠP ở trong và ngoài hình thân con người. Cái khí của 3 kinh Âm KHAI-HẠP ở trước và sau trong nội bộ… nên mới nói : “Dương ở ngoài do sự sai khiến của Âm ở trong ; Âm ở trong nhờ sự bảo vệ của Dương ở bên ngoài” –. Sở dĩ gọi là “nhất âm” là vì mạch đều thuộc Âm vậy.

KINH VĂN

Âm-dương đi lại không ngừng, chứa chất sự lưu truyền làm một chu ; khí ở Lý và Biểu, cùng nhau thành công (1).

(1)-. Âm-khí tích ở bên trong, Dương-khí truyền ở bên ngoài. Bắt đầu từ lúc mặt trời mọc. dương khí mới phát sinh, mặt trời đúng trưa thời Dương khí thịnh. Xế chiều dương khí bắt đầu suy, tới mặt trời lặn thời dương khí trở vào với khí Âm. Một ngày một đêm thành một CHU (vòng). Âm khí mở đóng bên trong, Dương khí xuất nhập bên ngoài biểu. nhờ sự ly hợp đó mà thành “kiếp sống” của con người.

Án : âm dương dù có ly-hợp, nhưng tất phải có sự đi lại không ngừng. bắt đầu từ Thủ Thái-âm PHẾ, đến Thủ Dương-minh ĐẠI-TRƯỜNG, Túc Dương-minh VỊ, Túc Thái-âm TỲ, Thủ Thái-Dương TIỂU-TRƯỜNG, Thủ Thiếu-âm TÂM, Túc Thái-Dương BÀNG-QUANG, Túc Thiếu-âm THẬN, Thủ Quyết-âm TÂM-BÀO-LẠC, Túc Quyết-âm CAN…. Như thế là đi hết một CHU. Theo giờ cổ, cứ 2 khắc thời khí đi một chu ; 100 khắc thời 50 chu. Mạch khí dẩn ở trong, hình thế tỏ ở ngoài. Âm dương tuy có ly-hợp, mà thực là tương thành một cách rất tinh khéo. Vậy xem đó thời âm dương ở con người, rất hợp với âm dương của trời đất vậy.

Sưu tầm

 

Bài viết chỉ mang tính tham khảo, có thể phù hợp hoặc chưa phù hợp với ai đó, trong hoàn cảnh nào đó, tất cả chỉ để biết, để tham khảo, để sử dụng mà thôi, không dính mắc, không chối bỏ. Hãy nhìn nhận với tâm bình thản, tâm quân bình. Nguyện cho quý vị được hạnh phúc, được an lạc! 🙏
2018-03-31T09:15:47+07:00

About the Author:

Sưu tầm và chia sẻ những câu chuyện ý nghĩa, những kiến thức hữu ích cho thân và tâm.

Leave A Comment