fbpx

CHƯƠNG 7 Âm – Dương biệt luận – P1

KINH VĂN 

Hoàng-Đế hỏi :

— Người có 4 kinh, 12 tùng là thế nào ?

Kỳ-Bá thưa :

— Bốn kinh ứng với 4 mùa ; 12 tùng ứng 12 tháng. 12 tháng ứng 12 mạch (1).

(1)-. “BỐN KINH” là tượng mạch “chính” của 4 mùa. Như : mạch mùa Xuân thời HUYỀN, mạch mùa Hạ thời CÂU, mạch mùa Thu thời MAO, mạch mùa Đông thời THẠCH. Bốn thứ kinh mạch để ứng theo với khí của 4 mùa.

“12 TÙNG” là chỉ về 3 kinh Dương, 3 kinh Âm của Thủ và Túc (tùng nghĩa là theo). Bắt đầu từ Thủ Thái-âm thuận hành tới Túc Quyết-âm, để ứng 12 tháng. Tỉ như : Thủ Thái-âm ứng với tháng Giêng (Dần), thủ Dương-minh ứng với tháng 2 (tháng MÃO) ; túc Dương-minh ứng với tháng 3 (tháng THÌN) ; túc Thái-âm ứng với tháng 4 (tháng TỴ) ; Thủ Thiếu-âm ứng với tháng 5 (tháng NGỌ) ; Thủ Thái-dương ứng với tháng 6 (tháng VỴ) ; Túc Thái-dương ứng với tháng 7 (tháng THÂN) ; Túc Thiếu-âm ứng với tháng 8 (tháng DẬU) ; Thủ Quyết-âm ứng với tháng 9 (tháng TUẤT) ; Thủ Thiếu-dương ứng với tháng 10 (tnáng HỢI) ; Túc Thiếu-dương ứng với tháng 11 (tháng TÝ) ; Túc Quyết-âm ứng với tháng 12 (tháng SỮU).

“12 MẠCH” là kinh mạch của 6 Tạng, 6 Phủ. Cái khí của 3 kinh Âm, 3 kinh Dương ứng với 12 tháng ; 12 tháng ứng với 12 mạch.

Thiên này phân biệt âm-dương để biết sống chết, nên gọi là “ ÂM-DƯƠNG BIỆT LUẬN”

KINH VĂN

Mạch đó Âm-Dương khác nhau. Biết dương sẽ biết được âm, biết âm sẽ biết được dương (1) .

Phàm về dương gồm có cả năm (5) ; năm lần năm sẽ có hai mươi lăm phần Dương (2) .

Phàm gọi là Âm, tức là CHÂN-TẠNG. Nếu chân-tạng hiện sẽ bại ; bại sẽ chết (3) .

Phàm gọi là Dương, tức là dương của Vị-quản (4) .

Phân biệt được Dương sẽ biết được bịnh ở đâu ; phân biệt được Âm sẽ biết được thời kỳ chết hay sống (5) .

Mạch của 3 kinh Dương ở đầu ; mạch của 3 kinh Âm ở tay, nhưng cũng chỉ do có một (6).

Phân biệt được mạch về Dương, sẽ biết được cái ngày kỵ của bịnh ; phân biệt được mạch về Âm, sẽ biết được thời kỳ chết hay sống (7) .

Nhớ kỹ về mạch Âm-Dương, không nên tin lời bàn vậy (8) .

(1)-. Mười hai kinh mạch do tạng-phủ âm-dương phối hợp. Cho nên biết Dương có thể biết được Âm. Biết Âm có thể biết được Dương. Biết rõ được âm dương thời có thể biết được sống hay chết.

(2)-. Tiết này lấy CHÂN-TẠNG của Vị-khí để phân biệt âm-dương. Dương khí ở trong VỊ, tư dưỡng cho cả 5 Tạng. năm tạng cùng sinh lẫn cho nhau, mà tạng nào cũng có đủ cái khí của tạng kia, nên mới nói : “năm lần năm sẽ có hai mươi lăm phần Dương”.

(3)-. Năm tạng thuộc âm. Nghĩa chữ “TẠNG” tức là “Tàng” (cất dấu) ; “THẦN” tàng ở đó mà không phát hiện ra bên ngoài. Sở dĩ không phát hiện ra bên ngoài là nhờ có cái khí Dương-hòa của Vị-khí. Nếu vị khí không có thời mạch của Chân-tạng sẽ phát hiện, thế tức là Tạng-khí bại, bại thời tất phải CHẾT.

(4)-. Trên kia nói “hai mươi lăm phần Dương” tức là chỉ về cái dương-khí do Vị-quản sinh ra.

Vị-quản ở vào bộ phận Trung-Tiêu. Chuyên chủ về biến hóa cái tinh-khí của thủy-cốc để tư dưỡng 5 Tạng. Xét về mạch của 4 mùa thời : mùa Xuân mạch HUYỀN, mùa Hạ mạch HỒNG, mùaThu mạch PHÙ, mùa Đông mạch TRẦM, mùa Trưởng-Hạ mạch HÒA-HOÃN (tức là dịu dàng, êm ái, tượng mạch của Thổ).

Xét về chính mạch của 5 Tạng thời : Can mạch HUYỀN, Tâm mạch HỒNG, Tỳ mạch HOÃN, Phế mạch SẮC, Thận mạch TRẦM. Như : về mùa Xuân Can-mạch hơi Huyền mà Trường ; Tâm-mạch hơi Huyền mà Hồng ; Tỳ-mạch hơi Huyền mà Hoãn ; Phế-mạch hơi Huyền mà Sắc ; Thận-mạch hơi Huyền mà Trầm….

Về mùa Hạ : Can-mạch thời hơi Hồng mà Huyền ; Tâm-mạch hơi Hồng mà Đại ; Tỳ mạch hơi Hồng mà Hoãn ; Phế-mạch hơi Hồng mà Sắc ; Thận-mạch hơi Hồng mà Trầm. v.v…..

Bốn mùa, năm tạng, lúc nào cũng có kiêm cả cái VỊ-KHÍ hơi hòa….. như thế là 25 phần Dương vậy.

(5)-. Nếu phân biệt được cái khí Dương-hòa của VỊ-khí thời một khi thấy có vẻ không hòa, sẽ biết ngay mắc bịnh ở đâu. Nếu phân biệt được cái Âm-mạch của Chân-tạng thời sẽ biết : nếu là Can-mạch phát hiện, thời kỳ 18 ngày chết ; nếu là Tâm-mạch phát hiện, thời kỳ 9 ngày chết v.v…

Tiết này nói Chân-tạng là Âm, Vị-khí là Dương ; so với 2 tiết trên dưới nói về âm-dương của kinh mạch khác nhau.

(6)-. Tiết này lại nói về âm-dương của 12 kinh mạch. Những mạch thuộc về 3 kinh Dương của Thủ và Túc : từ tay chạy lên đầu, rồi lại từ đầu chạy xuống chân, cho nên nói : “mạch 3 kinh Dương ở đầu”. Mạch của 3 kinh Âm của Thủ và Túc : từ chân chạy lên bụng, rồi từ bụng chạy ra tay. Cho nên nói : “mạch 3 kinh Âm ở tay”.

Mười hai kinh mạch dù có thủ-túc, âm-dương khác nhau, nhưng đều do một “gốc” mà xuất đi cả :

Mạch của Thủ Thái-âm PHẾ gi­ao với Thủ Dương-minh ĐẠI-TRƯỜNG ; Đại-trường gi­ao với Túc Dương-minh VỊ ; Vị gi­ao với Túc Thái-âm TỲ ; Tỳ gi­ao với Thủ Thiếu-âm TÂM ; Tâm gi­ao với Thủ Thái-dương TIỂU-TRƯỜNG ; Tiểu-trường gi­ao với Túc Thái-dương BÀNG-QUANG ; Bàng-quang gi­ao với Túc Thiếu-âm THẬN ; Thận gi­ao với Thủ Quyết-âm TÂM-BÀO-LẠC ; Tâm-bào-lạc gi­ao với Thủ Thiếu-dương TAM-TIÊU ; Tam-tiêu gi­ao với Túc Thiếu-dương ĐỞM ; Đởm gi­ao với Túc Quyết-âm CAN ; Can gi­ao với Thủ Thái-âm PHẾ ….. vì vậy nên gọi là “MỘT” (nhất quán).

(7)-. “phân biệt được mạch về Âm” MẠCH : tức là mạch chứng ; ÂM : là “nhất âm, nhị âm, tam âm”.

“phân biệt được mạch về Dương” MẠCH: là mạch chứng ; DƯƠNG : tức là sự phát bịnh do “nhất dương, nhị dương, tam dương” và “DƯƠNG KẾT”

Nếu phân biệt được mạch Dương, sẽ biết được sự “KỴ” của chứng đó ; còn về Âm-mạch, có thể định đoạt được sống hay chết.

(8)-. Câu này khuyên học-giả nên ghi nhớ cẩn thận, không nên nói bậy tin càn.

KINH VĂN 

Phàm mạch gọi là Âm dương : nhân ở “KHỨ” là Âm ; “CHÍ” là Dương ; tĩnh là âm, động là dương ; TRÌ là âm, SÁC là dương. (1)

Phàm muốn nhận mạch của Chân-tạng, nếu Can “chí” HUYỀN-TUYỆT và CẤP : 18 ngày sẽ chết ; Tâm chí Huyền tuyệt : 9 ngày sẽ chết ; Phế chí huyền tuyệt : 12 ngày sẽ chết ; Thận chí huyền tuyệt : 7 ngày sẽ chết ; Tỳ chí huyền tuyệt : 4 ngày sẽ chết. (2)

(1). “KHỨ” là luồng mạch từ bộ vị dẫn đi ; “CHÍ” cũng như “LAI” là luồng mạch từ trong cánh tay hiện ra ở bộ vị.

Phàm Tạng thuộc Âm, Phủ thuộc Dương. Âm dương ở những kinh Thủ-túc, tức là 12 kinh mạch của 6 Tạng, 6 Phủ. Vậy phải nhận ở các mạch tượng “ Lai – khứ – động – tĩnh – trì – sác” để phân biệt âm-dương.

(2). Tiết này phân biệt âm dương thuộc Chân tạng Vị-quản.

— “HUYỀN-TUYỆT” nghĩa là trơ trọi không còn một chút vị-khí Dương hoà nào. – “CẤP” là gấp quá.

Đây nói về mạch của CAN, nếu đã huyền-tuyệt, mà lại còn cấp, căng như dây cung dương thẳng ; thời tất phải chết, nhưng còn qua được 18 ngày. Những dự đoán về ngày chết, trên đây đều tính theo ở chỗ “tương khắc” mà nói . – Như Can-mạch đã hiện cái trạng thái huyền tuyệt… Can thuộc Mộc, bắt đầu tính từ ngày Gíap-Ất. đếm đến ngày Canh-tân nữa là 10 ngày, cộng lại thành 18 ngày sẽ chết (vì Kim khắc Mộc) – Lại tỉ như từ ngày Giáp Tí đến ngày Tân-Tỵ, cũng là 18 ngày.

*. TÂM mạch đã hiện cái trạng thái huyền tuyệt. Tâm thuộc Hỏa, đếm từ ngày Bính-Đinh trở đi ; đến ngày Nhâm-Qúy là 8 ngày, tất phải chết. (trên đây nói 9 ngày, cũng chỉ ở vào lúc ngày thứ 8 với ngày thứ 9 gi­ao tiếp với nhau thôi).

*. PHẾ-mạch đã hiện cái trạng thái huyền-tuyệt. Phế thuộc Kim, từ ngày Canh-Tân mà đếm trở đi, đến ngày thứ 8 là ngày Bính Đinh ; lại đếm đến ngày Bính-Đinh nữa, cộng là 18 ngày tất phải chết (trên đây nói 12 ngày, là từ ngày Canh-Tân đếm trở đi, đó là Canh-Tân lại gặp Canh-Tân vậy).

*. THẬN-mạch đã hiện cái trạng thái huyền-tuyệt. Thận thuộc Thủy, từ ngày Nhâm-Qúy đếm trở đi, đến ngày Mậu-Kỹ là 7 ngày, tất phải chết.

*. TỲ-mạch đã hiện cái trạng thái huyền tuyệt. TỲ thuộc Thổ, từ ngày Mậu-Kỹ đếm trở đi, đến ngày Giáp-Ất là 8 ngày tất phải chết (trên đây nói 4 ngày, là trừ bỏ ngày Mậu-Kỹ mà chỉ tính đến ngày Giáp.)

Về đoạn dự đoán những ngày chết trên đây, cũng chỉ là nói về cái lý và đại khái, ta không nên nhất thiết lấy làm định luật ; vì Âm-dương, Tạng-phủ biến hóa vô cùng. Thường khí ở trong tương khắc mà lại có tương sinh, thời đáng lẽ chết mà lại không chết…. gặp trường hợp đó ta cần phải xét cả toàn diện mới được.

KINH VĂN

Bịnh về Nhị-dương, phát sinh bởi TÂM và TỲ. Về con gái do sự uất kết, khiến cho nguyệt-sự không thấy rồi truyền thành chứng PHONG-TIÊU. Nếu lại truyền thành chứng TỨC-BÔN sẽ chết không chữa được. (1)

(1). NHỊ-DƯƠNG tức là Túc Dương-minh VỊ kinh. Vị là một cơ quan Thương-lẫm (kho đụn). nhiệm vụ của nó là thâu nạp thủy cốc (thức ăn). Giờ lại không thâu nạp được là vì sao ? — Chính là bởi TÂM-TỲ gây nên. Đơn cử như con gái , do sự uất kết ở Tâm, Tâm không sinh được huyết, huyết không nuôi được TỲ. Thoạt tiên, VỊ còn thâu nạp, nhưng TỲ không giúp VỊ để thi hành cái công năng vận hóa…. Dần dần VỊ cũng không thâu nạp được nữa. Do đó, mới biết rõ được là VỊ bịnh do TÂM-TỲ gây nên. – Lại do đó, thủy cốc suy ít, không có gì để biến hóa ra cái khí tinh vi, huyết mạch bởi đó mà khô, kinh-thủy bởi đó mà không thấy. Huyết đã khô, khí đã uất, “Nhiệt” đã sinh ra. Nhiệt cực thời Phong sinh ; cơ nhục do đó mà tiêu-thước, nên mới gọi là “PHONG-TIÊU”. – Lại do đó, hỏa phạm lên Phế-kim, gây nên chứng thở gấp, thượng-bôn. (TỨC là hơi thở, BÔN là khí nghịch lên). Mỗi lần thở phải so cả vai lên.

Tóm lại, TÂM chủ huyết, PHẾ chủ khí, TỲ là gốc của 5 Tạng, VỊ là biển của 6 Phủ…. Các cơ quan đó đồng thời mắc bịnh, phỏng còn sống sao được. Nên mới nói quyết là “chết không chữa được”.,.

KINH VĂN

Bịnh về Tam-Dương, phát ra chứng Hàn-nhiỆt (rét nóng) ; ở bộ phận dưới thành chứng UNG-THỦNG, với NUY, QUYẾT, XUYÊN-QUYÊN (1) .

Hoặc lại thêm chứng BÌ-PHU khô khan ; hoặc chứng ĐỒI-SÁN (2) .

(1)-. TAM-DƯƠNG : là Túc Thái-dương BÀNG-QUANG kinh. Khí của Thái-dương chủ về bộ phận Biểu. Khi tà khí phạm vào con người bắt đầu phạm vào bì-mao, “tà với chính 2 bên xung đột nhau” nên mới gây nên chứng HÀN-NHIỆT (sốt rét, sốt nóng).

–. Thái-dương là một cơ quan chủ về “KHAI : khi đã mắc bịnh thời không còn cái năng lực KHAI” nữa, do đó tà khí lọt vào tụ ở nhục lý (thớ thịt), mới gây nên chứng UNG-THỦNG (mụn sưng).

–. Thái-dương chủ về KHÍ và CÂN. Thái-dương mắc bịnh, nên cân bị thương, do đó thành chứng NUY (gân rã rời, lỏng lẽo, không cử động được). Vì khí cũng mắc bịnh nên thành chứng QUYẾT (tay chân giá lạnh) và “XUYÊN-QUYÊN” (đau nhức ở trong gân mạch thuộc bộ phân dưới).

— Thái-dương chủ về biểu-phận, nhưng kinh mạch lại phát sinh tự bộ phận dưới, nên khi mới mắc bịnh thời sinh chứng Hàn-nhiệt, dần dần về sau lại tiếp diển thêm những chứng trạng ở trên.

(2)-. Ví bị nhiệt nhiều, khiến tinh-huyết hao tán nên da dẻ mới thành ra khô khan.

— “ĐỒI SÁN” là một chứng đau nhức ở quả Thận, có khi đau rút lên cả tiểu-phúc (phía dưới rún, tức bụng dưới) ; có khi quả Thận sưng to lên, rất đau. Chứng này cũng bởi “cân bị thương” mà sinh ra.

KINH VĂN

Bịnh về NHẤT-DƯƠNG thiếu khí (ít hơi) hay HO, hay TIẾT (1) . Rồi truyền thành chứng TÂM-THỐNG và chứng CÁCH (2) .

(1)- “Nhất-Dương” tức là Túc Thiếu-dương ĐỞM kinh. Thiếu-dương chủ về cái khí sơ-sinh. Nếu mắc bịnh sẽ thành chứng “thiếu khí” (hơi thở ngắn như ít hơi, hoặc hơi cử động sẽ thở gấp ngay). Thiếu-dương vốn có Tướng-hỏa, vì khí “thiếu” nên hỏa “thịnh” rồi thời thế phạm lên PHẾ kim, nên mới hay ho. Nhân dịp đó, cái tà của Phong-mộc lại phạm tới Trung-thổ, nên mới hay TIẾT (tức là đi ngoài nát phân, tựa đi tả, đi tháo).

(2)-. Con người sau khi uống ăn thủy-cốc vào VỊ. Tinh khí lên TÂM thành huyết. Giờ TỲ đã bị thương, VỊ không nạp được thủy-cốc, TÂM không có tư dưỡng, bị hư, nên thành chứng TÂM-THỐNG (đau tim).

“CÁCH” tức là chứng ăn vào không chịu lại thổ ra. Gây nên chứng này cũng bởi Trung-thổ bị khắc.

KINH VĂN

Bịnh về NHỊ-DƯƠNG, NHẤT-ÂM, chủ về kinh hãi, bối thống, hay ợ, hay vươn vai… gọi là chứng PHONG-QUYẾT. (1)

(1)-. Nhị-dương, Nhất-âm : tức là VỊ với CAN. Can (Túc Quyết-âm) thuộc Đông-phương Phong-mộc, nên phát bịnh thành chứng KINH-HÃI (hoảng sợ). Mạch của Túc Dương-minh (Vị) mắc bịnh : nghe tiếng động chạm mạnh thời giật mình, e ngại.

— “BỐI” (lưng, khắp cả lưng chứ không chỉ đường xương sống) thuộc Dương. Quyết-âm chủ về Xuân-dương Can-mộc, cho nên mắc bịnh thời BỐI-THỐNG. Tà khí hạm vào VỊ, khí dẫn ngược lên để tan đi, nên hay ợ ; vươn vai cũng do Vị khí bị nghẽn lên : muốn vươn cho dễ chịu. Hợp tất cả 4 chứng trên đây, nguyên nhân đều do Phong-mộc mắc bịnh, phạm tới VỊ-thổ, nên mệnh danh là PHONG-QUYẾT.

KINH VĂN

Bịnh về NHỊ-ÂM – NHẤT DƯƠNG hay Trướng, Tâm mãn, hay thở dài. (1)

(1)-. “NHỊ-ÂM” là (Túc)Thiếu-âm THẬN kinh, “NHẤT-DƯƠNG” là (Túc)Thiếu-dương ĐỞM kinh. Đởm tà hữu dư, xâm phạm vào TỲ-thổ nên hay TRƯỚNG (bụng phồng vượt lên) ; THẬN tà hữu dư xâm phạm lên TÂM-hỏa nên TÂM-MÃN (đầy). Tâm-hệ bị co rút thời khí đạo bị hẹp lại, nên phải THỞ DÀI cho tiết bỏ khí ra. – Nguyên Hán văn câu này dùng chữ “thiện-khí”. Theo chú giải của Mã-Nguyên-Đài thời : “THIỆN-KHÍ hay “tức hơi” đó là do “Đởm-khí hữu dư” mà gây nên.

Sưu tầm

Bài viết chỉ mang tính tham khảo, có thể phù hợp hoặc chưa phù hợp với ai đó, trong hoàn cảnh nào đó, tất cả chỉ để biết, để tham khảo, để sử dụng mà thôi, không dính mắc, không chối bỏ. Hãy nhìn nhận với tâm bình thản, tâm quân bình. Nguyện cho quý vị được hạnh phúc, được an lạc! 🙏
2018-04-02T10:31:54+07:00

About the Author:

Sưu tầm và chia sẻ những câu chuyện ý nghĩa, những kiến thức hữu ích cho thân và tâm.

Leave A Comment