fbpx

CHƯƠNG 7 – Âm – Dương biệt luận – P2

KINH VĂN

Bịnh về TAM-ÂM – TAM-DƯƠNG gây nên chứng THIÊN-KHÔ, NUY-DỊCH và TỨ CHI KHÔNG CỬ ĐỘNG ĐƯỢC. (1)

(1)-. Tam-dương là Túc Thái-dương BÀNG-QUANG kinh. Tam-âm là Túc Thái-âm TỲ kinh. Mạch của Bàng-quang từ đầu lưng dẫn xuống chân, mạch của Tỳ chủ về TỨ CHI (hai tay, hai chân). Vì 2 kinh đó mắc bịnh nên phát thành các chứng trạng trên.

— THIÊN-KHÔ : khô đét một nửa người.

— NUY-DỊCH : tay chân rã rời, lúc ở bên tả, lúc ở bên hữu, hàng biến dịch luôn.

–TỨ CHI BẤT CỬ : tay chân không cử động được.

Tiết này nói bịnh gây nên từ Thủy-phủ rồi phạm lên TỲ-Thổ.,

KINH VĂN

Án vào mạch thấy bật lên “nhất-dương” gọi là CÂU ; thấy mạch bật lên “nhất-âm” gọi là MAO ; thấy Dương-mạch bật lên mà CẤP gọi là HUYỀN. Thấy Dương-mạch bật lên mà TUYỆT gọi là THẠCH. Thấy âm-dương 2 mạch, có vẻ bình quân gọi là LƯU. (1)

(1)-. Tiết này nói về Mạch-thế của 5 Tạng :

— NHẤT-DƯƠNG là Vi-dương “bật lên” tức là luồng mạch bật lên đầu ngón tay của người án mạch – CÂU : hình dung từ tả cái trạng thái của luồng mạch lúc lại đầy đủ, lúc đi ngoằn ngoèo và chậm…. đó là mạch của TÂM.

— NHẤT-ÂM : là Vi-âm, “MAO” : hình dung từ tả cái trạng thái của cái luồng mạch nhẹ nhàng như cái lông, đó là mạch của PHẾ.

— Dương mạch bật lên, có vẻ căng thẳng nhưng không thẳng quá gọi là HUYỀN. “Huyền” : hình dung từ chỉ cái trạng thái của mạch như dây cung lúc dương, đó là mạch của CAN.

— Dương mạch bật lên, mà lúc chùn xuống coi như tuyệt, gọi là THẠCH. “Thạch” : hình dung từ chỉ cái trạng lthái của mạch chìm xuống và rắn như đá, đó là mạch của THẬN.

— “LƯU”: hình dung từ chỉ cái trạng thái của mạch hòa hoãn như giòng nước chảy, đó là mạch của TỲ.,

KINH VĂN

Âm tranh giành ở bên trong, Dương rắc rối ở bên ngoài ; phách-hãn không thâu tàng, tức nghịch sẽ nổi dậy ; rồi hun lên Phế, gây nên SUYỄN-MINH (1) .

Âm đó sỉnh ra, gốc có hòa mới là hòa (2) . Nếu cương gặp cương, Dương-khí sẽ bị phá tán ; Âm-khí cũng bị tiêu vong (3) .

Cương-nhu không hòa, kinh khí sẽ tuyệt (4) .

(1)-. Tiết này nói về hai khí Dinh-Vệ (cũng là âm-dương, là huyết-khí) cốt ở điều hòa, không nên thiên thắng. Hòa thời khí âm dương sẽ sinh ra, thiên thắng thời khí âm dương sẽ giảm đi, kinh khí do đó mà tuyệt.

— Kinh mạch tạng phủ ở trong con người cùng gi­ao thông tuần hoàn lẫn nhau, không lúc nào dứt. Âm ở bên trong để giữ gìn cho Dương ; Dương ở bên ngoài để bảo vệ cho Âm. Nếu âm khí thiên thắng không được dương khí để điều hòa, thời âm sẽ tranh giành ở bên trong. Nếu dương khí thiên thắng, không được âm khí để điều hòa, thời dương khí sẽ rắc rối ở bên ngoài.

— Cao-Sĩ-Tông nói : “ Ở đây nói nếu 2 khí âm-dương không hòa, thời sẽ sinh ra bịnh DƯƠNG-KẾT, ÂM-KẾT. còn như cương với cương gặp nhau thời lại là Dương truyền cho Dương, Âm truyền cho Âm… tức là một “tử hậu” (chứng chết) do âm dương tuyệt vậy”.

(2)-. Đây nói: âm phải liên lạc với dương. Vì thế nên âm-dịch không nên để cho tiết ra ngoài. Hãn là một chất lỏng lo Huyết sinh ra . “PHÁCH-HÃN” tức là hãn do PHẾ tiết ra (vì Phế tàng PHÁCH nên gọi hãn của Phế là Phách-hãn). Kinh khí dẫn lên Phế, Phế là nơi tổng hội của trăm mạch, chuyển-du tinh trấp ra bì-mao, hãn ra khỏi bì mao, mà tinh huyết vẫn còn tàng ở âm. Nếu phách-hãn không thâu tàng được, đó là hãn bị cưỡng ra, tinh huyết sẽ đó mà bị thương. Phế chủ về việc dẫn hành Dinh-vệ âm dương. Nếu âm-dịch của Phế tạng bị tiết ra ngoài, tức thời sinh ra TÁO-NHIỆT ; nhiệt cực hàn sinh, tứ chi sẽ do đó mà Quyết-nghịch ; nhiệt hun ở Phế, nên thành chứng SUYỄN-MINH (thở gấp và hơi thở kêu khò khè).

(3)-. Đây nói : Dương có hòa với âm, mới đáng gọi là HÒA. Ngoại-mạch là dương, Phủ-mạch là dương, nhưng đều do 5 tạng, 5 hành mà sinh ra, nên mới nói là “Âm đó sinh ra”.

(4)-. “cương gặp cương” là dương không hòa với âm. Dương không hòa với âm thời dương-khí bị phá tán, mà cô-âm (âm trơ trọi có một mình) cũng bị tiêu vong..

Cương (dương) với Nhu (âm) không hòa, thời kinh-khí sẽ tuyệt. kinh-khí tuyệt, chỉ trong vòng 3, 4 ngày sẽ chết.,.

KINH VĂN

Về loài TỬ-ÂM chẳng qua 3 ngày thời chết ; về loài SINH-DƯƠNG chẳng qua 4 ngày thời chết (1)

Can truyền sang Tâm…. Gọi là SINH-DƯƠNG, Tâm truyền sang Phế gọi là TỬ-ÂM (2) .

Phế truyền sang Thận gọi làTRÙNG-ÂM ; Thận truyền sang Tỳ gọi là TỊCH-ÂM ; chết, không chữa được (3) .

(1)-. Năm Tạng do sự tương khắc mà truyền lẫn nhau gọi là TỬ-ÂM ; do sự tương sinh mà truyền lẫn nhau gọi là SINH-DƯƠNG.

Như : Can truyền sang Tâm, Tâm truyền sang Tỳ, Tỳ truyền sang Phế, Phế truyền sang Thận, đều gọi là SINH-DƯƠNG. — . Nếu : Tâm truyền Phế, Phế truyền Can, Can truyền Tỳ, Tỳ truyền Thận, Thân truyền Tâm.. đều gọi là TỬ-ÂM.

Do sự tương sinh của Dương-tạng mà truyền, cho nên chẳng qua 4 ngày (số chẳn) thời chết ; do sự tương khắc của Âm-tạng mà truyền, cho nên chẳng qua 3 ngày (số lẻ) thời chết.

(2)-. Can-mạch truyền Phế, Phế truyền Đại-trường, Đại-trường truyền Vị, Vị truyền Tỳ, Tỳ truyền Tâm, Tâm truyền Tiểu-trường, Tiểu-trường truyền Bàng-quang, Bàng-quang truyền Thận, Thận truyền Tâm-bào-lạc, Tâm-bào-lạc truyền Tam-tiêu, Tam-tiêu truyền Đởm, Đởm truyền Can…. Một Tạng một Phủ, một Thư (giống cái) một Hùng (giống đực) âm dương cùng xen nhau như cái vòng tròn không chổ đứt. – Đến như Can truyền Tâm, Tâm truyền Phế, Phế truyền Thận, Thận truyền Tỳ…. đó đều là kinh khí đã tuyệt, không sao chữa được.

(3)-. Phế truyền Thận, cũng là một loại Sinh-dương. Nhân Phế truyền Thận đều thuộc về Tân-tạng (giống cái). Thủy-tạng mà lại truyền sang cái tạng không thắng được là Tỳ-thổ, nên gọi là “TỊCH-ÂM”. Đều là chứng chết, không chữa được.

KINH VĂN

Nếu kết về Dương thời THỦNG Ở TỨ CHI (1)

Nếu kết về Âm thời TIỆN HUYẾT một thăng ; tái kết thời tiện huyết 2 thăng ; tam kết thời 3 thăng (2) .

Nếu kết ở khoảng âm dương khe nhau, nhiều về bên Âm, ít về bên Dương, thời gọi là THẠCH-THỦY, thủng ở Thiếu-phúc (3) .

Hai Dương kết gọi là TIÊU (4)

Ba Dương kết gọi là CÁCH (5)

Ba Âm kết gọi là THỦY (6)

Một Âm một Dương kết, gọi là HẦU TÝ (7) .

(1)-. Đây nói về cái khí âm dương không hòa, tự kết mà gây nên bịnh. Tứ chi là gốc của mọi khí Dương. Khí theo về Hình, vì khí kết nên hình THỦNG (sưng). Câu này là tóm cả 3 kinh Dương mà nói.

(2)-. Âm khí kết ở bên trong mà không lưu hành được. Thời huyết sẽ ngừng tụ mà tiết trở xuống. Một âm-kết, tiện huyết một thăng (tiếng Nôm gọi là “thưng”, mỗi thưng bằng chia năm một phần lít). Hai âm-kết tiện huyết 2 thăng, ba âm kết tiện huyết 3 thăng…. Đây là khái quát cả 3 Âm mà nói.

Án : Biện-Bạch-Thiên nói : “mạch có Dương-kết, Âm-kết, lấy gì để phân biệt ? – Đáp rằng : mạch PHÙ mà SÁC, ăn được mà không đại tiện, gọi là Dương-kết ; mạch TRẦM mà TRÌ, không ăn được, thân thể nặng nề, đại tiện lại rắn, gọi là Âm-kết” . Xem đó thời biết : muốn phân biệt âm dương khí kết, nên xét ở “khứ, chí, phù, trầm, trì, sác” của mạch để nhận rõ là Âm hay Dương.

— THỦNG Ở TỨ CHI : biết là Tam-dương đều kết ; tiện huyết 3 thăng biết là 3 Âm đều kết.

— Thấy hiện ra chứng “TIÊU”, biết là kết tại Nhị-dương, sẽ lấy phương pháp của Nhị-dương mà chữa ; thấy hiện ra chứng “CÁCH” biết là kết tại Tam-dương, nên lấy phương pháp của Tam-dương để chữa.

(3)-. Về thân thể con người, bên ngoài là Dương, bên trong là Âm ; VỊ là dương, THẬN là âm. Chứng SƯNG này nó lọt vào bên trong thân hình, bên ngoài Tạng phủ, và ở vào chỗ trống rỗng của Vị với Thận cách nhau.

— THẠCH-THỦY : tức là Thận-thủy, Thận là cửa ngỏ của Vị. Cửa ngỏ không thông lợi, nên tụ lại ở đó mà thành bịnh. Chứng này lệch nhiều về bên Thận-tạng, cho nên mới là nhiều âm ít dương và THỦNG ở Thiếu-phúc.

(4)-. Nhị-dương tức là Dương-minh VỊ-khí. “TIÊU” là một chứng “khát” : uống vào bao nhiêu cũng hết. Bởi vì Dương-minh khí kết nên cái chất âm-dịch của Thủy cốc không sinh ra được, mới gây nên chứng TIÊU-KHÁT (chứng này có nhiều nguyên nhân, sẽ giải rõ thêm ở dưới ).

(5)-. Tam-dương : là Thái-dương Bàng-quang. Thái-dương là một cơ quan chủ hóa sinh ra khí ; mà khí đó gốc từ Bàng-quang, do “nội cách” mà truyền ra “hung-hiếp” ; lại do hung hiếp mà đạt ra phu biểu. Nếu dương khí kết thời Cách-khí không thông. Phía trước “nội-cách” nhằm vào chỗ “bí-môn” của Vị-quản. Vì cách khí nghịch lên, nên sự ăn uống cũng bị nghẽn tắc không thông, nên gọi là bịnh “CÁCH”.

(6)-. Tam-âm tức là Túc Thái-âm TỲ. Tỳ là một cơ quan chuyển vận. Vì Tỳ-khí kết, nên những chất nước vào vị không bố tán ra được, thành chứng THỦY-DỊCH.

(7)-. Nhất-âm Nhất-dương tức là Quyết-âm với Thiếu-dương.

Quyết-âm Phong-mộc chủ về khí, mà nhờ được sức hỏa hóa của Thiếu-dương. Phong với Hỏa, hai khí kết lại, thời kim-khí sẽ bị thương,vì thế nên gây chứng HẦU-TÝ (HẦU là cuống họng, TÝ là đau hoặc vít nghẽn)—tức là chứng đau trong cuống họng.

PHỤ ÁN : về chứng “TIÊU” ở đây chỉ nói Hai-dương kết gọi là TIÊU. Nhưng ở thiên MẠCH YẾU TINH VI LUẬN lại có nói : “do chứng ĐẢN thành ra Tiêu-trung”.

— thiên KỲ BỊNH LUẬN nói :”….chuyên thành chứng TIÊU KHÁT….”

— TÀ KHÍ TẠNG PHỦ BỊNH HÌNH THIÊN ở Linh-Khu có nói: “ ….tiêu, bản….”

— THIÊN KHÍ HUYẾT LUẬN lại có nói các chứng : “ Phế tiêu, Cách tiêu…” khác nhau. Đem mấy thuyết trên đây hợp với thuyết “TAM-TIÊU” của đời sau, thời biết 5 tạng đều có chứng TIÊU-ĐẢN. như : về Thượng-tiêu, thời một tên gọi là CAO-TIÊU, một tên gọi là CÁCH-TIÊU.

* BỊNH CƠ nói : Thượng tiêu tức là Phế. Uống nước nhiều mà ăn ít, đại tiện như thường mà tiểu tiện trong và lợi. Đó là TÁO ở thượng-tiêu.Về phép trị liệu nên thấm thấp và nhuận táo. – Lại nói : về chứng CAO-TIÊU, lưỡi đỏ và nứt, khát quá đòi uống nước luôn.

— Lưu-Hà-Gi­ang nói : “uống nước nhiều mà tiểu tiện nhiều, gọi là TIÊU-KHÁT”. Đó là chỉ về chứng ở Thượng-tiêu mà nói.

— Trần-Vô-Thạch nói: “bịnh tiêu khát thuộc về TÂM cho nên Tâm phiền, khiến Tâm-hỏa tán mạn, khát muốn uống nước, các bộ mạch đều “NHUYỂN, TÁN” ; hoàn toàn là một chứng khí thực, huyết hư….” . Đó cũng là nói về Thượng-tiêu.

Nay xét, thiên KHÍ HUYẾT LUẬN ở Tố-Vấn nói: “Tâm di nhiệt lên Phế, gây thành chứng CÁCH-TIÊU”.

— Thiên TÀ KHÍ TẠNG PHỦ BỊNH HÌNH nói :”Tâm mạch VI-TIỂU là chứng TIÊU-ĐẢN…” và “Phế-mạch VI-TIỂU là chứng TIÊU-ĐẢN…” xem đó thời bịnh này chính là do khí ở Thượng-tiêu và kiêm cả Tâm, Phế chứ không riêng gì một Phế.

— Đông-Viên nói : “ về bịnh CÁCH-TIÊU, dùng bài Bạch-Hổ Nhân-sâm thang để điều trị”.

* Về chứng TRUNG-TIÊU, có khi lại gọi là TIÊU-TRUNG hoặc NỘI-TIÊU.

— BỊNH CƠ nói : bịnh Tiêu-trung thuộc về VỊ. : khát mà muốn ăn đều nhiều, tiểu tiện đỏ hoặc vàng. Vì nhiệt gây nêu TIÊU-KHÁT, nên biết là bịnh tại Trung-tiêu. Nên dùng thuốc HẠ (tức là cho tháo ra đường đại-tiện).

— Trần-Vô-Thạch nói : “Tiêu-trung là một chứng TỲ-ĐẢN. nhiệt quá nhiều nên thành TIÊU-TRUNG.”

— Sách TỤ-CHÂN-PHƯƠNG nói : “ chứng nội-tiêu do nhiệt quá ở bên trong mà gây nên. Tiểu tiện nhiều hơn lượng nước uống vào – uống vào một phần, tiểu ra hai phần – mà lại không khát. Vì hư quá nên hơi thở ngắn”.

— Lưu-Hà-Gi­ang nói: “uống ăn nhiều mà không khát lắm, hoặc tiểu tiện đi vặt luôn mà thân thể hao mòn gầy còm, gọi là TIÊU-TRUNG”.

— Đông-Viên nói : “bịnh trung-tiêu, bịnh nhân ăn ngon và nhiều mà lại gầy mòn, tự hãn, đại tiện rắn, tiểu tiện đi vặt luôn”.

— Vương-Thúc-Hòa nói : “ miệng khô ráo, uống nước nhiều, ăn nhiều mà vẫn đói, đó tức là chứng TIÊU-TRUNG. Dùng bài Điều Vị Thừa Khí thang, hoặc Tam-Hoàng-Hoàn để điều trị.”

Nay xét : thiên MẠch yẾu tinh vi luẬn ở Tố-Vấn nói “Đế hỏi : — Chẩn được Vị-mạch như thế nào ?

Kỳ-Bá nói :”Mạch THỰC thời trướng, HƯ thời tiết.

Đế hỏi : Bịnh đã thành rồi lại biến ra thế nào ?

Kỳ-Bá nói: Bịnh đã thành, sẽ biến thành chứng TIÊU-TRUNG.

— Lại xét : thiên THÔNG BÌNH HƯ THỰC LUẬN : “ Kỳ-Bá nói: – phàm trị chứng TIÊU-ĐẢN, THIÊN-KHÔ, NUY-QUYẾT, khí mãn phát nghịch…. Phần nhiều là tật bởi ăn nhiều chất cao lương”.

— Lại xét : thiên PHÚC TRUNG LUẬN :

Hoàng-Đế hỏi : — Phu tử thường nói chứng Nhiệt-trung, Tiêu-trung, không nên ăn những chất cao lương và uống các thứ phương-thảo, thạch dược, sẽ phát điên, phát cuồng. Nghĩ như, mắc chứng nhiệt-trung, tiêu-trung phần nhiều là hạng người phú quý. Giờ cấm họ không cho ăn những thứ ấy, làm sao vừa lòng họ và bịnh khỏi sao được ?

Kỳ-Bá đáp : — cái khí chất của phương thảo, thạch dược phần nhiều mạnh tợn. Vì mạnh tợn nên khí của nó cấp bách, không phải những người tâm tình hòa hoãn có thể uống được. Về bịnh khi đã mạnh tợn, mà lại uống thứ thuốc mạh tợn, hai đàng gặp nhau sẽ cùng xung đột. Nếu xung đột sẽ làm thương TỲ, Tỳ-thổ mà ghét Mộc…. uống thuốc ấy vào, đến ngày Giáp-Ất sẽ khó toàn”.

— Lại trong thiên KỲ BỊNH LUẬN :

Hoàng-Đế hỏi : — Có người mắc bịnh trong miệng cứ thấy có vị ngọt, là vì sao ?

Kỳ-Bá đáp : — Đó là do 5 khí ràn lên, gọi là TỲ-ĐẢN. Nguyên nhân do 5 vị ăn vào miệng, chứa ở Vị, Tỳ giúp việc chuyển du bao tinh khí tân dịch đều ở Tỳ, nên khiến miệng ngọt. Bịnh đó do các thức ăn ngon béo gây nên. Bịnh nhân tất là người chuộng ăn các thức ngọt và béo. Chất béo gây nên “nội-nhiệt” , chất ngọt gây nên “Trung-mãn”. Cho nên khí ấy rắn lên, biến thành TIÊU-KHÁT.

Xem đó thời như thiên này nói “Nhị-dương kết gọi là TIÊU”. Chính là là chỉ về Trung-tiêu. Và cũng tức là bịnh thuộc TỲ-VỊ.

* Về Hạ-tiêu, một tên là TIÊU-THẬN, một tên là THẬN-TIÊU, lại một tên nữa là CƯỜNG-TRUNG.

— BỊNH CƠ nói : “Bịnh Tiêu-thận, khi mới phát là chứng CAO-LÂM (tiểu tiện nhỏ giọt, nước tiểu như chất dầu mở). Khi bịnh đã thực hiện, sắc mặt sạm đen, thân thể gầy còm, hai tai khô đét, nước tiểu đục và có lẫn chất mỡ. Về phương pháp liệu trị nên dưỡng huyết và làm cho chia sự trong đục. dần dần sẽ khỏi”.

— Trần-Vô-Thạch nói : “Bịnh Tiêu-thận, thuộc về THẬN. Nguyên nhân do thời kỳ tuổi trẻ chời bời quá độ, đến khi đứng tuổi, dùng nhiều các thứ thuốc có chất kim-thạch, khiến cho chân-khí bị suy tán. Gây nên chứng miệng khát, tinh dịch tự tiết ra, không uống nước mà tiểu nhiều….”

— Lưu-Hà-Gi­ang nói : “ Uống nước luôn miệng, bắp đùi gầy còm, mà tiểu tiện có lẫn chất mỡ, gọi là THẬN-TIÊU”.

— Lý-Đông-Viên nói : “chứng Hạ-tiêu, phiền khát, đòi uống nước, vành tai khô đét, tiểu tiện ra như mỡ….”

— Vương-Thúc-Hòa nói: “Bực dọc, uống nước, khát luôn…. Đó là chứng THẬN-TIÊU. Nên cho uống bài LỤC VỊ ĐỊA HOÀNG HOÀN”.

— Tụ-Chân-Phương nói : “Cường-trung là một chứng Dương-hành cứng lớn, không gi­ao cấu mà tinh-khí tự tiết ra.”

Lại nói : “Thận thực, thời tiểu mà không khát, tiểu tiện tự lợi, gọi là Thận-tiêu, tức cũng là NỘI-TIÊU. Về phương pháp liệu trị : nên nén Tâm-hỏa và tư dưỡng Thận-thủy.”

Lại xét LINH-KHU có nói : “ Thận-mạch VI-TIỂU là chứng Tiêu-đản…” và “Can-mạch VI-TIỂU là chứng Tiêu-đản..” . và đó chính cũng là chứng HẠ-TIÊU.

Lại xét TỤ-CHÂN-PHƯƠNG nói : “Con người có Thận, cũng như mạch có gốc”. Cho nên nếu Thận mắc bịnh, thời trước phải hình dung tiều tụy, dù có sự tư-dưỡng cũng không sao bóng loáng, cho nên hể mắc chứng TIÊU-KHÁT đều do Thận-kinh mắc bịnh. Nguyên nhân đều do lúc thiếu-tráng không tự bảo dưỡng, tình dục quá độ, ăn uống không chừng, lại uống các thứ đan-thạch…. Khiến cho Thận-thủy khô kiệt, Tâm-hỏa bốc nóng, Tam-tiêu khô đét, 5 Tạng háo kiệt, do đó sinh ra chứng khát và lợi…” . Đó là nói Tam-tiêu đều gốc ở THẬN.

— THÁNH TỂ TÔNG LỤC lại nói : “nếu chữa truyền thành chứng NĂNG-THỰC (ăn ngon và nhiều), tất phát ra chứng NÃO-THƯ (mụn ở đầu óc), BỐI-THƯ (mụn ở lưng). Nếu không truyền thành chứng Năng-thực thời sẽ truyền thành chứng TRUNG-MÃN, CỔ-TRƯỚNG… đều là chứng khó chữa. Khiết-Cổ-Lão-Nhân chia ra để chữa :

a)- Năng-thực mà khát : cho uống bài BẠCH-HỔ gia Nhân-sâm thang.

b)- không Năng-thực mà khát : cho uống bài BẠCH-TRUẬT tán bột gia Cát-căn.

Trở lên mà nói về một chứng “TIÊU”, mà đầu mối phức tạp như vậy ; Y-giả nên tinh tế lắm mới được.

KINH VĂN 

Âm “BÁC” Dương “BIỆT” là mạch có thai (1) ; âm-dương đều hư, sẽ sinh chứng TRƯỜNG-TIẾT và chết (2) .

Dương xen vào Âm sẽ thành chứng HÃN (3) ; âm “HƯ” dương “BÁC” sẽ thành chứng BĂNG (4) .

(1)-. “BÁC” là hình dung luồng mạch bật mạnh trên tay. “BIỆT” là biệt lập, khác hẳn. – “Âm Bác” là nói : mạch ở Xích-bộ (thuộc âm) bật mạnh trên tay ; “Dương Biệt” là nói mạch ở Thốn-Khẩu khác hẳn, như mạch ở một tay người khác, không còn liên lạc gì với nhau. Chẩn thấy mạch như vậy chủ về có thai.

(2)-. Âm dương ở câu này là nói về mạch ở Thông-bộ và Xích-bộ.

Ở con người, phàm dinh, vệ, khí, huyết đều do cái khí của Thủy-cốc mà gây nên. Vị là một cơ quan thụ nạp. Trường (ruột) là một cơ quan truyền đạo. Tới khi âm dương đều hư mà lại giảm mất cái gốc của sự tư-sinh (giúp sống, tức thủy-cốc), cho nên khó lòng sống được. Nên nói mắc chứng TRƯỜNG-TIẾT (đại tiện nát hoặc tháo).

(3)-. HÃN là âm dịch (một chất lỏng thuộc âm), nhờ sự tuyên phát của Dương-khí mới có thể thấm nhuần ra khắp da lông. Nếu mạch về Thốn-bộ (dương) ĐỘNG-SÁC, lại xen vào Xích-bộ (âm), sẽ thành ra HÃN. Vậy nên biết : Hãn do dương khí xen vào âm-dịch, mà mạch cũng thành Dương-mạch xen vào Âm-bộ vậy.

(4)-. “BĂNG” tức là BĂNG-HUYẾT ; huyết từ trong chảy tháo ra. Sở dĩ gây nên chứng này là do dương thịnh âm hư, dồn huyết đi càn mà gây nên.

Án : thuộc về chứng huyết-băng của đàn bà, huyết đó do Bào-lạc-cung mà ra. Huyết hạ hành đã lâu khiến đường đi như đã thuộc ; huyết ở bản-cung thiếu ít, khiến tất cả huyết ở 12 kình đều theo một đường lối ấy mà tiết lậu ra. Nhưng Bào-lạc-cung lại “nệ” vào Thận, mà bên trên thông với Tâm. Cho nên chứng này đối với 2 kinh Tâm, Thận rất có quan hệ, vậy nên mới hiện ra cái mạch trạng “Âm hư, Dương bác”.

Thiên NUY LUẬN nói rằng : “bi ai quá độ thời Bào-lạc tuyệt. bào-lạc tuyệt thời dương khí sẽ động ở bên trong, khi phát thời thành chứng BĂNG”.

Trong sách THI-HIỆU-LỤC của Lý-Đông-Viên, dùng các thứ thuốc dẩn kinh của 12 kinh, khiến cho huyết lại trở về 12 kinh. Rồi sau mới dùng thứ thuốc có sắc đen để chỉ huyết. Nếu dùng thuốc có sắc đen ngay mà không trước dùng thuốc dẫn kinh thời bịnh sẽ khó khỏi.

KINH VĂN

Mạch ở Tam-âm đều “BÁC” : tới nửa đêm ngày thứ 20 sẽ chết (1)

Mạch ở Nhị-âm đều “BÁC” : tới lúc mặt trời lặn ngày thứ 13 sẽ chết (2)

Mạch ở Nhất-âm đều “BÁC” : tới ngày thứ 10 sẽ chết (3)

Mạch ở Tam-dương đều “BÁC và CÔ” : tới ngày thứ 3 sẽ chết (4)

Mạch ở Tam-dương Tam-âm đều “BÁC”, Tâm mãn (đầy), âm dương ở phúc-bộ phát ra hết, như có sự uất kết… tới ngày thứ 5 sẽ chết (5)

Mạch ở Nhị-dương đều “BÁC” sẽ mắc bịnh ÔN, nguy. Không quá 10 ngày sẽ chết (6) .

(1)-. Tam-âm tức là Thái-âm. Thuộc về 2 bộ của TỲ và PHẾ ;đều bật mạnh trên tay, không có khí dương hòa. “HAI” là hàng đứng đầu của số chẳn ; “MƯỜI” là hàng số cuối cùng của âm , nửa đêm là thời kỳ âm vừa hết, mà khí Nhất-dương sắp sinh. Thái-âm là chí-âm. Nhân cái khí “chí-âm” mà tuyệt không có chút “sinh-dương” nào, tất là chết.–. Chết về thời kỳ âm cực.—Đông-Duy-Viên nói : “Âm-kết, Dương-kết, là một danh từ chỉ định về khí âm dương bị kết”.

(2)-. Nhị-âm tức là Thiếu-âm, mạch của Nhị-âm đều BÁC, tức là mạch 2 bộ TÂM-THẬN đều bật mạnh trên tay. Thiếu-âm chủ về thủy-hỏa, thuộc 2 khí âm dương. Thiên do số 1 sinh ra hành Thủy, Địa do số 6 hợp thành. Địa do số 2 sinh ra hành Hỏa, Thiên do số 7 hợp thành.

Ngày thứ 13 là số “thành” cuối cùng, mặt trời lặn là cuối cùng của một ngày ; do âm-tạng của thủy-hỏa nên chết về số “thành” và cuối cùng của ngày.

(3)-. Nhất-âm tức là Quyết-âm. Mạch của 2 bộ CAN và TÂM (bào lạc) đều bật lên. Ngày thứ 10 là cuối cùng của âm số. Quyết-âm là nơi cuối cùng của khí âm. Chết về ngày đó là do cái khí cuối cùng và cái ngày cuối cùng của âm số vậy.

(4)-. Tam-dương tức là Thái-dương. “CÔ” là cô động, mạch vừa bật lên mà lại có vẻ cô-động mạnh. Đó là cái trưng-triệu Dương-cực mà không còn một chút gì âm hòa. Thái-dương với Thiếu-âm cùng làm biểu lý, và đều chủ về khí Thủy-hỏa. thiên do số 1 sinh ra hành thủy, địa do số 2 sinh ra hành hỏa. đó là cái “Dương-phủ” thủy hỏa, cho nên chết về cái số “sinh” của thiên địa . – Ta lại nên nhận rằng : thiên chủ về “SINH”, Địa chủ về “THÀNH” ; cho nên bịnh ở Thái-dương thời chết về “sinh số” mà bịnh ở Thái-âm thời chết về “thành số”.

(5)-. Tam-âm, Tam-dương là cái khí của 5 hành. Hai khí âm dương cùng “bác kích” không hòa, cho nên hết cái số của 5 hành thời chết. – TÂM-MÃN là do dương “bác” lên ở bộ phận trên ; có sự “uất kết” là do âm “bác” ở bộ phận dưới.

Phúc (bụng) ở vào bộ phận dưới, là nơi âm dương tương gi­ao với nhau. “phúc bộ phát ra hết….” tức là dương phát ra hết ở trên , âm phát ra hết ở dưới, mà không còn sự “hòa” hiện ra ở bộ phận giữa nữa.

Tiết này nói về âm dương mắc bịnh ở trên và dưới. Tiết dưới nói về âm dương mắc bịnh về Hàn và Nhiệt.

(6)-. Nhị-dương tức là Dương-minh, bịnh ÔN tức là SỐT RÉT và NÓNG. Âm dương ở con người, do cái khí thủy cốc của Dương-minh mà ra. Nên Nhị-dương đều “bác” thời tuyệt mất cái nguồn gốc sinh ra âm dương rồi. Âm không được dương điều hòa thời sinh ra bịnh HÀN ; dương không được âm điều hòa thời sinh ra bịnh NHIỆT. Giờ âm dương đã tuyệt thời là một chứng rất nguy. “CHÍN” là hàng cuối cùng của số Dương, “MƯỜI” là hàng cuối cùng của số Âm. Chết vào ngày thứ 10, tức là đúng vào thời kỳ âm dương đều hết.

Tiết trên nói mạch của Tam-dương ở đầu, mạch của Tam-âm ở tay ; đó tức là như “một” là “nhất quán”. Nếu 2 khí âm dương không quán thông với nhau, mà lại tự cùng “bác kích” (chọi, xung đột) lẫn nhau, thời sẽ gây nên chứng chết như vậy.

Tiết này nói : nhờ về khí dương của Vị-quản để sinh nuôi âm dương của 5 tạng. Nếu 2 dương đều “bác” thời âm dương đều tuyệt, cũng là chứng CHẾT.,.

Sưu tầm

Bài viết chỉ mang tính tham khảo, có thể phù hợp hoặc chưa phù hợp với ai đó, trong hoàn cảnh nào đó, tất cả chỉ để biết, để tham khảo, để sử dụng mà thôi, không dính mắc, không chối bỏ. Hãy nhìn nhận với tâm bình thản, tâm quân bình. Nguyện cho quý vị được hạnh phúc, được an lạc! 🙏
2018-04-02T10:41:13+07:00

About the Author:

Sưu tầm và chia sẻ những câu chuyện ý nghĩa, những kiến thức hữu ích cho thân và tâm.

Leave A Comment