fbpx

Trước khi bạn hành thiền, hãy dành vài phút để suy tưởng về sự thanh tịnh, sự tĩnh lặng, bình an, giải thoát, trí tuệ và lòng từ bi của Đức Phật

Trước khi bạn hành thiền, hãy dành vài phút để suy tưởng về sự thanh tịnh, sự tĩnh lặng, bình an, giải thoát, trí tuệ và lòng từ bi của Đức Phật. Bạn sẽ an trụ tâm vào đó và sẽ cảm thấy thật tĩnh lặng và bình an. Sau đó, nếu hành thiền với một đề mục của thiền Vipassana, tâm bạn sẽ an trú trong đề mục được lâu hơn, bởi vì quán niệm về Đức Phật sẽ tạo điều kiện cho bạn buông bỏ những băn khoăn, lo nghĩ của thế gian. Bạn sẽ không còn cho những việc đó là quan trọng nữa… về chiếc xe ô tô của tôi, công việc của tôi, về chuyện này chuyện kia…những việc đó có thể đợi được…Có lúc, khi đang hành thiền bạn lại bắt đầu nghĩ…”Tôi phải trả tiền cho cái hoá đơn đó…tôi cần phải gọi điện, chuyện này rất quan trọng”…Đúng vào lúc bạn bắt đầu ngồi thiền là một cái gì đó quan trọng lại nảy ra trong đầu, phá rối và làm bạn bị xao lãng. Vì vậy tôi mới nói với các bạn là phải chuẩn bị cho tâm mình.

Sự chuẩn bị này rất quan trọng. Đừng nghĩ rằng

việc đó làm bạn mất thời gian, bởi vì càng chuẩn bị tốt thì hành thiền sẽ càng dễ dàng hơn.

Bạn hãy buông bỏ tất cả …cái hoá đơn đó không quan trọng, cuộc điện thoại đó cũng không quan trọng, việc ấy có để đợi 2 tiếng nữa cũng được, hoặc bất cứ chuyện gì cũng vậy…Bạn sẽ tìm được cách giải quyết tốt nhất cho những vấn đề ấy, nhưng bây giờ là lúc phải gác tất cả mọi việc sang một bên… hãy buông xả tất cả mọi thứ như vậy.

Nghĩ về một người nào đó như Đức Phật,

 một người thật tự do và giải thoát,

 điều đó sẽ làm cho bạn dễ xả bỏ hơn.

Đối với tôi, thì hình ảnh đó là Sư phụ của tôi. Khi nghĩ đến Sư phụ, tôi có thể buông bỏ được mọi thứ. Tôi cảm nhận được sự giải thoát của người, sự buông bỏ, không dính mắc, sự tri túc biết đủ và ít ham muốn của người. Hãy chuẩn bị tâm mình như vậy.

Khi bạn đã thực sự an trú tâm vào đề mục, dù là một cái đĩa màu trắng hay nâu, hay thậm chí chỉ là một lỗ hổng, hoặc thiền tâm từ hoặc niệm tưởng ân đức Phật…Khi tâm bạn đã thực sự thể nhập và an trú trong đó, không còn bị chi phối, xao lãng nữa, thì đó được gọi là an chỉ định (jhāna). Jhāna có hai nghĩa, một là an trụ và nghĩa thứ hai là thiêu đốt. Nó thiêu đốt phiền não, ít nhất cũng tạm thời.

Nếu bạn thực sự an trú tâm và quên hết mọi việc bên ngoài, tâm bạn thể nhập vào đề mục và an trú trong đó, nó không hề lay động. Đôi khi, bạn còn không thể hướng tâm mình đến một đề mục khác được nữa. Nó quay trở lại đề mục cũ và an trú tại đó, một mức định rất mạnh, nhưng để đạt được mức định như vậy là tương đối khó. Tuy nhiên, bạn có thể đạt được cận định khá dễ dàng. Cận có nghĩa là gần, bạn chưa nhập được vào an chỉ định nhưng đã đến rất gần. Khi đến đây, bạn chưa vào được trong phòng nhưng đã đến ngoài cửa. Cận định cũng như vậy, rất gần với an chỉ định, có nghĩa là tâm bạn có thể an trú liên tục trong đề mục vài phút rồi xao lãng một chút, rồi lại quay lại…chỉ xao lãng chút xíu…rồi quay lại… cứ tiếp tục như vậy. Đạt được mức định ấy là đủ để thực hành thiền Vipassanā.

Để thực hành thiền Vipassanā không nhất thiết

 phải đạt tới tận an chỉ định, song tâm bạn vẫn cần phải có một mức độ ổn định và yên tĩnh nhất định.

Thâm chí ngay cả khi không có được mức định đó, bạn vẫn có thể hành thiền với một đề mục Vipassanā. Ví dụ ta chú tâm vào hơi thở, một hơi…hai hơi…bạn có thể an trụ tâm như vậy một thời gian dài. Khi mới tập hành thiền, tôi thường cố thở thật sâu, rất không tự nhiên. Tôi biết thế là không tự nhiên, nhưng nó cũng có ích bởi vì khi thở sâu, tôi dễ an trú tâm vào hơi thở hơn. Bạn không thể chạy đi đâu được, bởi vì nó chiếm toàn bộ tâm trí bạn. Bạn an trụ trong hơi thở, nhưng cũng không thể làm như vậy lâu, bởi vì sau một lúc bạn sẽ mệt và người rất nóng. Khi mới hành thiền thì tôi chỉ ngồi tập thở sâu như vậy 10 phút. Lúc đầu thì rất mệt, nhưng sau một lúc thì không thấy mệt nữa. Thậm chí bạn còn không cảm thấy mình đang thở mạnh nữa. Rất tĩnh lặng, chỉ có cơ thể đang làm công việc hít thở. Tâm an trú cùng hơi thở. Bạn không còn nghĩ đến điều gì nữa. Không thể nghĩ được nữa.

Sau khi đã phát triển được một định tâm nhất định, bạn quay trở lại với hơi thở bình thường, bởi vì nếu cứ giữ hơi thở thô giả tạo này bạn sẽ chánh niệm trên các cảm giác thô rõ và định tâm của bạn cũng thô, vì định tâm cũng phụ thuộc vào đề mục. Khi đề mục thô thì định cũng thô. Khi thở bình thường, hơi thở của bạn trở nên rất nhẹ và nông. Nếu có thể an trú trên hơi thở êm nhẹ và nông đó, định tâm của bạn sẽ trở nên mạnh hơn. Đề mục càng vi tế và bạn an trụ được trong đó thì định của bạn sẽ càng mạnh. Hơi thở giả tạo, không tự nhiên cũng có ích nhưng sau một thời gian bạn phải buông bỏ nó. Với hơi thở mạnh, nếu không phát triển được định, thì bạn cũng luyện được một mức độ tập trung nào đó. Sau một thời gian, bạn sẽ cảm nhận được luồng không khí ra vào, thực sự cảm nhận được, có thể đó chỉ là những cảm giác đơn thuần. Lúc đầu bạn nghĩ “Tôi đang thở”. Không khí đang đi vào, đi ra. Tôi cảm nhận được nó ở gần lỗ mũi. Sau một thời gian bạn quên mất mình đang thở. Không còn “tôi” và không còn hơi thở nữa. Không còn hơi thở ra, không còn hơi thở vào. Không có cả mũi nữa. Chỉ có cảm giác và chánh niệm, nó trở thành cảm giác thuần tuý và chánh niệm thuần tuý, bạn không còn nghĩ đến cảm giác nữa. Bạn tiếp xúc trực tiếp với cảm giác đó và nó chỉ là cảm giác, không còn là luồng không khí nữa. Không khí là một ý niệm, mũi là một ý niệm, “ra” là một ý niệm, “vào” là một ý niệm, “Tôi đang hành thiền” cũng là một ý niệm. Tất cả chúng sẽ biến mất, tâm bạn tiếp xúc trực tiếp với một cảm giác. Bạn có chánh niệm đơn thuần, không thêm một điều gì, không thêm vào một ý niệm nào nữa. Thậm chí bạn cũng không nghĩ đến sanh và diệt nữa, không nghĩ đến cảm giác và ngay cả chánh niệm nữa.

Đừng nghĩ bất cứ điều gì, bởi vì bạn có thói quen suy nghĩ, hãy cố gắng học hiểu bằng cách sử dụng chính tiến trình suy nghĩ này. Tiến trình suy nghĩ diễn ra ở bán cầu trái của não bộ chúng ta, muốn có một ý tưởng rõ ràng, thú vị, chúng ta phải suy nghĩ và sử dụng bán cầu não trái. Nhưng thiền là trực giác. Do đó, khi hành thiền chúng ta sử dụng bán cầu não phải. Nếu hiểu cách thức hoạt động của hai bán cầu não, bạn sẽ hiểu mình đang làm gì khi hành thiền. Hãy hiểu rõ vấn đề này, khi thực sự hành thiền chúng ta không cố hiểu bằng tri thức. Không có tiến trình tri thức nào nữa. Suy nghĩ là một tiến trình tri thức. Bạn phải vượt qua nó. Nếu vẫn sử dụng hay viện đến sự trợ giúp của tư duy tri thức này, chúng ta sẽ bị mắc kẹt trong thực tại thông thường, bởi vì suy nghĩ là một hành động rất thông thường. Nếu thực sự muốn chứng nghiệm thực tại siêu thế, chúng ta phải buông bỏ mọi suy nghĩ.

Trước khi bắt tay vào thiền, hãy đọc thêm sách Phật Pháp, cố gắng tìm hiểu định (samādhi) là gì, danh (nāma) là gì, sắc (rūpa) là gì,  vô thường (anicca) là gì, khổ (dukkha) là gì, vô ngã (anatta) là gì.

Nhưng khi thực sự hành thiền thì phải buông bỏ

 tất cả những điều đó. Chỉ tiếp xúc trực tiếp với những gì đang hiện hữu. Hãy trở nên thật đơn giản!

Bạn phải càng đơn giản càng tốt. Chỉ cần luôn hay biết các cảm giác, đừng nghĩ nó là sanh hay diệt, nó là khổ hay vô ngã, thậm chí cũng đừng nghĩ nó là danh hay sắc. Không có bất cứ suy nghĩ nào, nếu bạn có thể duy trì được như vậy trong một thời gian dài, nó sẽ tự động xuất hiện, một cách trực giác. Ta sẽ hiểu được cái đang là, và “cái đang là” đó là cái mà bạn không thể diễn tả thành lời được. Bạn cũng không thể thực sự nói về vô thường được.

Thực tế, bạn cũng không thể suy nghĩ về vô thường, bởi vì khi thực sự chứng nghiệm được nó, bạn sẽ

 thấy nó là cái không thể diễn tả bằng ngôn từ.

Khi bạn cố suy nghĩ về nó thì nó đã không còn ở đó nữa. Vì vậy, khi hành thiền, bạn không thể nói: “Ồ, có một cái gì đó đang sanh và diệt, cái đó là vô thường”. Lúc đó bạn không còn hành thiền nữa, mà đang sử dụng tiến trình suy nghĩ. Bạn đã bị rơi trở lại thực tại thông thường.

Điều này sẽ lặp đi lặp lại nhiều lần một cách tự nhiên trong quá trình thực hành của bạn, bởi vì chúng ta đã quá quen với suy nghĩ và phân tích mất rồi. Chúng ta cứ nghĩ rằng chỉ khi nào chúng ta suy nghĩ, tư duy về một điều gì đó thì ta mới có thể hiểu được nó. Chúng ta cố gắng để quay lại với suy nghĩ, quay lại với thói quen phân tích và tìm hiểu. Điều đó sẽ còn xảy ra nhiều lần nữa, mỗi khi nó quay lại, bạn chỉ cần nhìn và nói …”suy nghĩ”…Ngay cả khi bạn nghĩ: “đây là danh” thì đó cũng là một suy nghĩ, khi bạn nghĩ “đây là sắc”, đó cũng là một suy nghĩ. Bạn nghĩ “đây là sanh và diệt, đây là vô thường”, thì thực ra đó cũng là một suy nghĩ nữa mà thôi.

Hãy quan sát những tia suy nghĩ chợt xuất hiện trong tâm bạn. Càng quan sát bạn sẽ càng buông bỏ được chúng. Chúng sẽ không đi ngay lập tức, điều đó rất khó, nhưng dần dần chúng sẽ biến mất cho đến khi không còn một câu một từ nào khởi lên trong tâm nữa. Bạn có thể tiếp cận trực tiếp với cái đang là, hiểu được nó mà không cần phải khái niệm hoá nó.

Một khi đã có thể làm được điều đó, phần còn lại sẽ tương đối dễ dàng. Cái khó ở đây là chúng ta luôn cố suy  nghĩ về nó để rồi lại bị xao lãng, phân tán. Nếu chúng ta luôn luôn nắm bắt được các cảm giác, nắm bắt được tâm hay biết, thì những thứ còn lại sẽ đến tương đối dễ dàng.

Dần dần tôi sẽ giảng kỹ về các tầng tuệ của thiền Vipassanā (vipassanā ñāṇa) và cách thức chúng phát triển, chín muồi. Nó rất thú vị, rất tự nhiên, mặc dù tốt hơn cả là bạn không cần biết đến nó mà cứ tiếp tục hành thiền. Trước khi tập thiền, tôi cũng chưa từng đọc những điều này. Tôi chỉ vào rừng để hành thiền và Sư phụ tôi nói rằng không được đọc bất cứ một cuốn sách nào. Tôi thường xuyên đến nghe Sư phụ giảng pháp, sau một thời gian Sư phụ nói: “Từ giờ trở đi không đến nghe pháp nữa”. Sư phụ thậm chí còn không cho tôi nghe pháp, “hãy đi đi và chỉ hành thiền thôi, nếu có câu hỏi nào thì hãy đến, còn không có điều gì cần hỏi thì cứ tiếp tục hành thiền”. Đôi khi, tôi cố kiếm được một cuốn sách bởi vì tôi rất thích đọc sách, và dấm dúi giấu nó vào một góc nào đó, nhưng rồi một hôm Sư phụ chợt hỏi: “Con đang đọc sách đấy phải không?” “Dạ…dạ…chỉ đọc một chút…một chút thôi ạ”…Bởi vì tôi rất sợ bị Sư phụ hỏi. Sư phụ nói: “Không được đọc sách, con còn có rất nhiều việc để làm, rồi sau này sẽ có khối thời gian để mà đọc, bỏ sách đi, chỉ hành thiền thôi, luôn luôn hay biết thân tâm mình”. Sau khi hành thiền được 3 năm, tôi mới bắt đầu đọc kinh điển Phật Pháp và tôi phát hiện ra rằng nó thực sự đúng…Những điều trong kinh điển nói, tôi đã chứng nghiệm được tất cả những điều đó và bây giờ tôi tìm thấy nó trong kinh điển. Tôi đã có thêm đức tin trong giáo pháp…điều đó là sự thực!

Khi hành thiền tôi làm gì?

 Thực ra, tôi chỉ làm một việc hết sức đơn giản.

Tôi chẳng làm gì cả. Chỉ luôn cố gắng hay biết

những gì đang diễn ra ngay trong hiện tại.

Khi phát hiện ra mình đang suy nghĩ, tôi cố gắng hay biết những suy nghĩ đó. Mới đầu thì tôi thường miên man nghĩ ngợi rất lâu rồi mới chợt nhớ ra: “Mình đang suy nghĩ”… tôi nghĩ bụng: “không biết mình bắt đầu nghĩ từ lúc nào nhỉ”, rồi cố gắng truy ngược lại dòng suy nghĩ. Điều đó thật thú vị, xem một sự việc này kết nối với một sự việc khác ra sao, các suy nghĩ và ý tưởng nối liền với nhau. Tôi lần ngược trở lại được điểm bắt đầu: “Mình bắt đầu suy nghĩ lan man từ đây, và kết thúc ở chỗ này, hai việc đó chẳng có liên quan gì với nhau cả!”. Rồi dần dần khi mới bắt đầu suy nghĩ là tôi đã bắt được mình đang suy nghĩ ngay và nó liền dừng lại…Rất khó duy trì được trạng thái ấy! Phải hay biết về một cảm giác nào đó ngay lập tức, nếu không thì lại tiếp tục suy nghĩ về một việc khác nữa. Rồi dần dần về sau, tôi thấy được ngôn từ đang chầm chậm thành hình trong tâm. Rất thú vị, các ngôn từ, ý tưởng cứ chầm chậm xuất hiện trong tâm, câu này tiếp nối câu kia và rồi lại chấm dứt suy nghĩ!.

Sau đó tôi phát hiện ra rằng: mỗi khi nghĩ đến một câu, lại có một cảm xúc xuất hiện đi kèm với nó, điều này nằm ngoài ngôn từ. Sau đó, tôi lại phát hiện thêm: trước khi tôi nghĩ đến một điều gì đó thì trong tâm đã có một ý tưởng mơ hồ về điều đó rồi, dù là nghĩ về một người nào, về đồ ăn thức uống hoặc về một việc nào đó sẽ làm. Trước khi thành hình nên một câu chữ trong tâm, tôi đã có một cảm nhận mơ hồ rằng nó là gì rồi, có một cái gì đó đang đến, rất vi tế. Khi tôi hay biết được rằng có một cái gì đó đang trồi lên trên bề mặt ý thức, thì nó lại biến mất…và tâm tôi lại bình ổn trở lại. Bởi vì có một cái gì đó luôn đang nổi lên, nên tôi không ở trong trạng thái ổn định thực sự được. Luôn có một trạng thái trạo cử, bất an nào đó trong tâm. Có một cái gì đó luôn thúc đẩy, ba động ở bên trong. Khi hay biết được cảm giác này, hay biết cảm xúc hay một ý định làm cái gì đó, ngay cả uống một cốc nước thôi chẳng hạn, tôi có thể nhìn thấy tác ý muốn làm đó và rồi nó biết mất. Đôi khi, tôi còn thấy được cả hình ảnh một cốc nước ở trong tâm nữa. Khi muốn uống nước, tôi nhìn thấy hình ảnh một bình nước, cái cốc, cảm nhận được cảm giác khát và tôi chánh niệm hay biết điều đó. Khi đó nó biến mất và tâm tôi bình ổn trở lại. Suốt ngày, lúc nào cũng có một cái gì đó cuồn cuộn bên trong như một bình nước đang sôi. Bạn càng hay biết thì nó càng ổn định trở lại và rồi tôi chấm dứt mọi suy nghĩ, không làm gì nữa cả.

Chánh niệm luôn có ở đó.

Bạn không cần phải cố gắng chánh niệm

về một cái gì…nó luôn luôn hiện hữu.

 Như một tấm gương lớn, tất cả mọi thứ đi qua

 phía trước sẽ được phản chiếu trên mặt gương.

 Tấm gương không phải cố nắm bắt

bất cứ đối tượng nào cả.

Đối tượng trôi ngang qua, cảm giác xảy ra và tâm tự động chánh niệm, hay biết nó, rồi nó lại biến mất. Chánh niệm luôn có ở đó. Bạn không phải làm gì cả. Đến giai đoạn này, thiền không còn là một công việc bạn đang phải tiến hành nữa. Thiền là một cái gì đó diễn ra một cách tự động. Nhưng phải cần một thời gian để đạt được đến mức đó. Một người nói với tôi: “Ngài đã hành thiền từ rất lâu rồi và có lẽ Ngài đã quên rằng, đối với một người mới bắt đầu thì sẽ khó khăn đến mức nào”; tôi nghĩ đúng là như thế. Khi nghĩ lại, tôi mới nhớ ra rằng: khi mới tập thiền, tôi cũng đã từng muốn bỏ cuộc. Tôi cảm thấy rất thất vọng và nghĩ rằng: “Việc này có lẽ không phải là công việc dành cho mình mặc dù mình thực sự muốn làm”. Tôi có thói quen suy nghĩ quá nhiều; tôi thích đọc tâm lý học, triết học, so sánh các loại tôn giáo, nó làm tôi trở nên suy nghĩ quá nhiều. Tôi cũng từng ước muốn mình sẽ trở thành một nhà văn nữa cơ. Đôi khi, tôi cũng ngồi vào bàn và viết một đoạn văn, một bài pháp, khi đó rất nhiều tư tưởng kỳ diệu nảy sinh trong óc tôi, nhiều dòng tư tưởng thật hay, thật tuyệt vời. Tôi nghĩ: “Ồ, điều này hay quá, mình phải viết về chủ đề này. Không ai có được những ý nghĩ ấy như mình! Mình có thể diễn giải khúc triết vấn đề này, mình đang rất có hứng viết”. Thế rồi Sư phụ tôi nói: “Đừng có viết lách gì hết, ngay cả ghi chép trong quá trình hành thiền cũng thôi đi”. Bởi vì, nếu bạn ghi chép, khi hành thiền bạn sẽ nghĩ: “A ha…điều này thật kỳ diệu, mình phải ghi lại mới được”, và lúc đó thì thiền của bạn đã chạy đi đâu mất tiêu rồi. Bạn không thể vượt qua được mức ấy.

Thậm chí bạn còn phải buông bỏ cả chính tuệ giác của mình nữa.”Đang có sự việc này diễn ra, OK,

buông bỏ thôi!”. Bạn có thấy mình đã buông bỏ  bao nhiêu rồi không? Chúng ta bị

 dính mắc vào chính những hiểu biết của mình,

vào chính những tuệ giác sâu sắc ấy.

Nguồn : Bản đồ hành trình tâm linh – Thiền sư Sayadaw U Jotika

Bài viết chỉ mang tính tham khảo, có thể phù hợp hoặc chưa phù hợp với ai đó, trong hoàn cảnh nào đó, tất cả chỉ để biết, để tham khảo, để sử dụng mà thôi, không dính mắc, không chối bỏ. Hãy nhìn nhận với tâm bình thản, tâm quân bình. Nguyện cho quý vị được hạnh phúc, được an lạc! 🙏
2018-06-23T15:19:39+07:00

About the Author:

Sưu tầm và chia sẻ những câu chuyện ý nghĩa, những kiến thức hữu ích cho thân và tâm.

Leave A Comment