fbpx

Vitamin A

Các tên gọi khác của Vitamin A

3-Dehydroretinol, 3-Déhydrorétinol, Acétate de Rétinol, Antixerophthalmic Vitamin, Axerophtholum, Dehydroretinol, Déhydrorétinol, Fat-Soluble Vitamin, Oleovitamin A, Palmitate de Rétinol, Retinoids, Rétinoïdes, Retinol, Rétinol, Retinol Acetate, Retinol Palmitate, Retinyl Acetate, Rétinyl Acétate, Retinyl Palmitate, Rétinyl Palmitate,Vitamin A Acetate, Vitamin A Palmitate, Vitamin A1, Vitamin A2, Vitamina A, Vitamine A, Vitamine A1, Vitamine A2, Vitamine Liposoluble, Vitaminum A.


♦ Vitamin A là gì?

Vitamin A là một loại vitamin thường  được tìm thấy trong nhiều loại trái cây, rau, trứng, sữa, bơ động vật, bơ thực vật, thịt và cá biển. Vitamin A cũng có thể được tạo ra trong phòng thí nghiệm.

Vitamin A được sử dụng để điều trị tình trạng cơ thể thiếu vitamin A và làm giảm các biến chứng của bệnh sốt rét, HIV, bệnh sởi và tiêu chảy ở trẻ em với tình trạng thiếu vitamin A.dung-bo-lo-10-nhom-thuc-pham-giau-vitami-vafkhoang-chat-tot-cho-da

Phụ nữ có thể sử dụng vitamin A trong thời gian kinh nguyệt, khi gặp hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS), nhiễm trùng âm đạo, nhiễm nấm, “ngực sần” (bệnh vú fibrocystic), và để ngăn ngừa ung thư vú. Một số phụ nữ nhiễm HIV cũng sử dụng vitamin A để giảm nguy cơ lây truyền HIV sang con trong thời kỳ mang thai hoặc cho con bú.

Đàn ông có thể sử dụng vitamin A để tăng số lượng tinh trùng.

Một số người sử dụng vitamin A để cải thiện thị lực và điều trị các rối loạn mắt bao gồm thoái hóa điểm vàng (AMD), tăng nhãn áp và đục thủy tinh thể.vitamin-a-3

Vitamin A được sử dụng để điều trị vấn đề về da bao gồm mụn trứng cá, eczema, bệnh vẩy nến, mụn rộp, bỏng, cháy nắng, viêm da, cải thiện vết thương, làm giảm nếp nhăn và bảo vệ da chống lại tia cực tím.

Nó cũng được sử dụng điều trị các bệnh viêm loét đường tiêu hóa, bệnh Crohn, bệnh nướu răng, tiểu đường, hội chứng Hurler, nhiễm trùng xoang và nhiễm trùng đường tiết niệu (UTIs), các bệnh thần kinh, nhiễm trùng mũi, mất khứu giác, hen suyễn, đau đầu dai dẳng, sỏi thận, tuyến giáp hoạt động quá mức, máu thiếu sắt, điếc, ù tai, lở miệng…

Ngoài ra còn các ứng dụng khác bao gồm việc ngăn ngừa và điều trị ung thư, bảo vệ hệ thống tim mạch, làm chậm quá trình lão hóa và tăng cường hệ thống miễn dịch.


♦ Hiệu quả

Tình trạng thiếu vitamin A có thể xảy ra ở những người bị thiếu hụt protein, bị mắc bệnh tiểu đường, rối loạn tuyến giáp, sốt, bệnh gan, xơ nang, hoặc một số rối loạn di truyền.tac-dung-cua-vitamin-a-341

Có hiệu quả:

– Điều trị ung thư vú. Phụ nữ tiền mãn kinh và có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư vú cần sử dụng nhiều vitamin A trong chế độ ăn uống để giảm nguy cơ phát triển ung thư vú.

– Điều trị đục thủy tinh thể. Nghiên cứu cho thấy rằng hàm lượng cao vitamin A trong chế độ ăn uống có liên quan đến việc giảm nguy cơ đục thủy tinh thể phát triển.

– Điều trị tiêu chảy liên quan đến HIV. Dùng vitamin A cùng với các loại thuốc thông thường có thể làm giảm nguy cơ tử vong do tiêu chảy ở những trẻ em dương tính với HIV.

– Điều trị bệnh sốt rét. Uống vitamin A có thể giảm các triệu chứng sốt rét ở trẻ em dưới 3 tuổi tại các khu vực phổ biến bệnh sốt rét.

– Điều trị bệnh sởi. Uống vitamin A có thể  giảm nguy cơ biến chứng bệnh sởi dẫn tới tử vong ở trẻ em.

– Điều trị các vấn đề tổn thương thời kỳ tiền ung thư miệng.

– Phục hồi sau phẫu thuật mắt bằng laser. Uống vitamin A cùng với vitamin E giúp cải thiện và phục hồi sau phẫu thuật.dau-bung-duoi-khi-mang-thai-luc-nao-la-dau-hieu-bao-nguy-me-can-di-kham-ngay-e1471230344184

– Giảm các biến chứng sau khi mang thai. Dùng vitamin A có thể giảm nguy cơ mắc tiêu chảy và sốt sau khi mang thai ở những phụ nữ bị thiếu dinh dưỡng.

– Giảm các biến chứng trong thai kỳ. Uống vitamin A có thể làm giảm nguy cơ tử vong và bệnh quáng gà trong thời kỳ mang thai ở phụ nữ bị thiếu dinh dưỡng.

Điều trị các bệnh võng mạc (viêm võng mạc). Nghiên cứu cho thấy rằng uống vitamin A có thể làm chậm sự phát triển của các bệnh về mắt gây thiệt hại tới võng mạc.

——————–

Các trường hợp không hiệu quả

– Các vấn đề hô hấp ở trẻ sơ sinh (viêm phế quản). Nghiên cứu cho thấy rằng việc tiêm vitamin không làm giảm nguy cơ của các vấn đề hô hấp ở trẻ sơ sinh.

– Các tác dụng phụ liên quan tới tiêu hóa. Uống vitamin A không ngăn ngừa hoặc làm giảm tác dụng phụ của vấn đề tiêu hóa ở trẻ em.an-dam-1-2-600x400

– Tử vong sớm ở thai nhi và trẻ sơ sinh. Uống bổ sung vitamin A trước, trong và sau khi mang thai dường như không làm giảm nguy cơ tử vong sớm ở thai nhi và trẻ sơ sinh nếu thai phụ bị suy dinh dưỡng. Tuy nhiên, uống vitamin A lại có thể làm giảm nguy cơ tử vong do bị thiếu dinh dưỡng hoặc thiếu vitamin A.

– U ác tính. Nghiên cứu cho thấy rằng uống vitamin A không thể giúp những người có khối u ác tính kéo dài sự sống.

– Sẩy thai. Phụ nữ uống vitamin A hoặc kết hợp với các vitamin khác trước hoặc trong thời kỳ đầu mang thai vẫn không làm giảm được nguy cơ sẩy thai hoặc thai chết lưu.thoai-hoa-khop-co-nen-choi-the-thao-khong

Thoái hóa khớp. Các sản phẩm có chứa selenium, vitamin A, vitamin C và vitamin E không giúp cải thiện bệnh viêm xương khớp. Bổ sung vitamin A cũng không làm giảm đau đối với những người bị viêm xương khớp, viêm cột sống dù người đó có đủ lượng vitamin A.

Lao. Thiếu vitamin A là vấn đề phổ biến ở những người bị bệnh lao. Tuy nhiên, dùng vitamin A vẫn không thể cải thiện các triệu chứng hoặc giảm nguy cơ tử vong ở những người bị bệnh lao.

——————–

Các trường hợp ít hiệu quả

– Ung thư não và cổ. Uống vitamin A không làm giảm nguy cơ phát triển các khối u mới hoặc cải thiện sự sống ở những người bị ung thư não và cổ.

– Lây nhiễm HIV. Uống vitamin A không làm giảm nguy cơ lây truyền HIV từ thai phụ sang thai nhi trong quá trình mang thai, trẻ sau khi sinh và trẻ đang bú. Nghiên cứu thực tế cho thấy phụ nữ nhiễm HIV nếu được uống bổ sung vitamin A trong thời kỳ mang thai vẫn có thể có nguy cơ truyền HIV từ mẹ sang con qua sữa mẹ.hiv-testing

– Nhiễm trùng đường hô hấp. Uống vitamin A không ngăn ngừa hoặc làm giảm các triệu chứng của chứng nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ em. Thực tế cho thấy vitamin A còn có thể gây tăng nhẹ nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ em.

Viêm phổi. Uống Vitamin A không giúp chữa trị hoặc ngăn ngừa viêm phổi ở trẻ em tại các nước đang phát triển.

——————–

Các trường hợp chưa chứng minh được tính hiệu quả

– Bệnh gan liên quan tới rượu. Uống vitamin A cùng với các loại vitamin và khoáng chất không giúp cải thiện tình trạng ở những người bị bệnh gan liên quan đến rượu.

– Thiếu máu. Dùng vitamin A có thể giúp tăng nồng độ của protein và sắt trong máu. Điều này có thể làm giảm nguy cơ thiếu máu ở trẻ em và phụ nữ có thai. Tuy nhiên tại một số quốc gia phổ biên tình trạng thiếu máu thì việc dùng vitamin A với sắt và axit folic dường như cũng không cải thiện tình trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai so với chỉ dùng sắt và axit folic.thieu-mau1

– Ung thư cổ tử cung. Nghiên cứu cho thấy hàm lượng vitamin A tăng trong máu hoặc khẩu phần vitamin A cao hơn có thể làm giảm nguy cơ ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, điều này dường như chỉ đúng trong trường hợp kết hợp cả hai dạng vitamin A, retinol và carotenes.

Sự phát triển của trẻ. Dùng vitamin A không giúp cải thiện khả năng tăng trưởng ở trẻ em với chế độ dinh dưỡng bình thường. Tuy nhiên, dùng vitamin A có thể cải thiện tăng trưởng ở trẻ em bị thiếu vitamin A.

– Ung thư bạch cầu hoặc tủy (CML). Nghiên cứu ban đầu cho thấy rằng uống vitamin A không giúp cải thiện sự sống ở những người bị bệnh bạch cầu mãn tính. Dùng vitamin A không đúng cách còn có thể làm tăng nguy cơ ngộ độc.

– Ung thư đại trực tràng. Dùng vitamin A riêng lẻ hoặc kết hợp với beta-caroten dường như không giúp ngăn ngừa ung thư đại trực tràng.baoduongsat-vn-tieuhoa

– Ung thư thực quản. Một số nghiên cứu cho thấy ăn nhiều thực phẩm chứa beta-carotene và vitamin A có liên quan đến giảm nguy cơ ung thư thực quản. Tuy nhiên vẫn có bằng chứng khác cho thấy rằng uống vitamin A kết hợp với beta-carotene lại không ngăn ngừa được ung thư thực quản.

HIV. Dùng vitamin A trong thời kỳ mang thai không làm giảm nguy cơ tử vong cho mẹ và con. Ngoài ra bổ sung vitamin A trong khi mang thai cũng không giúp ngăn chặn sự phát triển HIV ở thai phụ. Tuy nhiên, bổ sung vitamin A cho trẻ nhiễm HIV lại có thể làm giảm nguy cơ tử vong liên quan đến HIV.

benh-viem-phoi– Ung thư phổi. Nghiên cứu ban đầu cho thấy rằng uống vitamin A có thể cải thiện sự sống và giảm sự phát triển của các khối u mới ở những người bị ung thư phổi. Tuy nhiên, nghiên cứu khác lại cho thấy vitamin A không ảnh hưởng đến sự tồn tại bệnh ung thư phổi. Thậm chí vitamin A còn làm tăng nguy cơ ung thư phổi ở những người hút thuốc và những người tiếp xúc.

– Bệnh ung thư buồng trứng.

– Tỷ lệ tử vong nói chung. Bổ sung vitamin A cho trẻ em từ 6 tháng đến 5 năm tuổi có thể làm giảm nguy cơ tử vong, đặc biệt là ở những trẻ có nguy cơ thiếu vitamin. Tuy nhiên, uống vitamin A dường như không làm giảm nguy cơ tử vong ở những người lớn khỏe mạnh.

– Bệnh ung thư tuyến tụy. Vitamin A kết hợp với beta-caroten không ngăn ngừa được ung thư tuyến tụy.

Ung thư tuyến tiền liệt. Vitamin A được cung cấp từ chế độ ăn uống cũng không giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt.

– Ung thư dạ dày.lam-gi-de-lanh-vet-thuong-nhanh-chong-3

– Khả năng thính giác.

– Bệnh liên quan đến thoái hóa điểm vàng (AMD).

– Bệnh tăng nhãn áp.

– Khả năng phục hồi từ bệnh nhiễm trùng.

– Cải thiện chức năng miễn dịch.

– Làm lành vết thương.

– Các biện pháp giảm các triệu chứng sốt.

Vì vậy chúng ta cần có thêm bằng chứng để đánh giá việc sử dụng vitamin A có hiệu quả hay không.


♦ Vitamin A hoạt động như thế nào?

Vitamin A rất cần thiết cho sự phát triển chính xác các chức năng của mắt, da, hệ thống miễn dịch và nhiều bộ phận khác trên cơ thể.


♦ Mức độ an toàn

Vitamin A có khả năng là an toàn cho hầu hết mọi người khi dùng bằng đường uống hoặc tiêm vào bắp với số lượng ít hơn 10.000 đơn vị mỗi ngày.

Vitamin A có thể không an toàn khi dùng bằng đường uống với liều lượng cao. Một số nghiên cứu khoa học cho thấy rằng khi dùng vitamin A ở liều lượng cao có thể làm tăng nguy cơ loãng xương và gãy xương hông, đặc biệt là ở người già. Người lớn nếu ăn các sản phẩm từ sữa ít béo bổ sung vitamin A và những loại trái cây, rau quả thì thường sẽ không cần bổ sung thêm vitamin A hoặc những loại vitamin tổng hợp có chứa vitamin A.5-loai-vitamin-me-nhat-dinh-phai-bo-sung-sau-khi-sinh-2

Sử dụng một lượng lớn vitamin A trong thời gian dài có thể gây ra những tác dụng phụ nghiêm trọng bao gồm mệt mỏi, khó chịu, thay đổi tâm lý, chán ăn, khó chịu dạ dày, buồn nôn, nôn mửa, sốt nhẹ, ra mồ hôi nhiều và nhiều tác dụng phụ khác. Ở những phụ nữ đã qua thời kỳ mãn kinh, dùng quá nhiều vitamin A có thể làm tăng nguy cơ loãng xương và gãy xương hông.

Ngày càng có nhiều người lo ngại rằng dùng các chất bổ sung chất oxy hóa như vitamin A ở liều lượng cao có thể gây nhiều tác hại hơn là lợi ích. Một số nghiên cứu cho thấy dùng ở liều lượng cao các chất bổ sung vitamin A có thể làm tăng nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân và những tác dụng phụ nghiêm trọng khác.be-uong-thuoc

Vitamin A có khả năng an toàn cho trẻ em khi dùng ở liều lượng được khuyến cáo. Số lượng tối đa của vitamin A đảm bảo an toàn cho trẻ dựa vào độ tuổi:

  • Ít hơn 2000 đơn vị/ngày ở trẻ em 3 tuổi.
  • Ít hơn 3000 đơn vị/ngày ở trẻ em lứa tuổi 4-8 tuổi.
  • Ít hơn 5700 đơn vị/ngày ở trẻ em 9-13 tuổi.
  • Ít hơn 9300 đơn vị/ngày ở trẻ em từ 14 đến 18 tuổi.

Vitamin A có thể không an toàn cho trẻ em khi dùng bằng đường uống với liều lượng cao. Khi dùng một lượng lớn vitamin A so với khuyến cáo, các tác dụng phụ có thể bao gồm khó chịu, buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy, mất ý thức, đau đầu, các vấn đề về thị giác, tăng nguy cơ viêm phổi và tiêu chảy…

* Những lưu ý đặc biệt

  • Mang thai và cho con bú: Vitamin A có khả năng an toàn cho phụ nữ mang thai và cho con bú khi dùng với liều lường khuyến cáo ít hơn 10.000 đơn vị mỗi ngày, nếu dùng lượng lớn hơn có thể sẽ không an toàn. Việc theo dõi lượng vitamin A từ tất cả các nguồn trong 3 tháng đầu thai kỳ là đặc biệt quan trọng. Các dạng vitamin A được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm bao gồm các sản phẩm từ động vật, chủ yếu là gan, một số loại ngũ cốc ăn sáng bổ dưỡng…8-effective-ways-to-take-care-of-your-skin-post-delivery
  • Uống quá nhiều rượu: uống rượu có thể làm tăng những tác hại của vitamin A ở gan.
  • Rối loạn cơ thể không hấp thụ được chất béo: Những người bị rối loạn không hấp thụ được chất béo như bệnh celiac, hội chứng ruổ ngắn, vàng da, xơ gan, bệnh tuyến tụy sẽ không hấp thụ được toàn bộ vitamin A. Những người này nên sử dụng các sản phẩm vitamin A hòa tan trong nước để cải thiện khả năng hấp thụ vitamin A.
  • Một loại cholesterol được gọi là “Loại V hyperlipoproteinemia”. Tình trạng này có thể làm tăng nguy cơ ngộ độc vitamin A. Không nên dùng vitamin A nếu bạn mắc chứng bệnh này.
  • Nhiễm trùng đường ruột: Bệnh nhiễm trùng đường ruột như giun móc có thể làm giảm khả năng hấp thu vitamin A vào cơ thể.bao-ve-gan-milk-thistle-extract-e
  • Bệnh gan: Qúa nhiều vitamin A có thể khiến cho bệnh gan nguy hiểm hơn. Không nên dùng vitamin A nếu bạn mắc bệnh gan.
  • Suy dinh dưỡng: Ở những người bị suy dinh dưỡng protein nặng, dùng vitamin A có thể dẫn đến việc thừa quá nhiều vitamin A trong cơ thể.
  • Thiếu kẽm: Thiếu kẽm có thể gây ra các triệu chứng như thiếu vitamin A. Nên có sự kết hợp bổ sung giữa vitamin A và kẽm để cải thiện tình trạng.

♦ Liều lượng cân nhắc cho vitamin A

Liều lượng vitamin A đủ cho trẻ sơ sinh: sơ sinh đến 6 tháng, 400 mcg / ngày (1300 đơn vị); 7-12 tháng, 500 mcg / ngày (1700 đơn vị).

Liều lượng vitamin A trong khẩu phần ăn cho trẻ em và người lớn được khuyến cáo:

  • Trẻ em từ 1 đến 3 tuổi: 300 mcg / ngày (1000 đơn vị).muathuoctot-com_143522806849550908
  • Trẻ em 4-8 tuổi: 400 mcg / ngày (1300 đơn vị).
  • Trẻ em 9-13 tuổi: 600 mcg / ngày (2000 đơn vị).
  • Đàn ông 14 tuổi trở lên: 900 mcg / ngày (3000 đơn vị).
  • Phụ nữ 14 tuổi trở lên, 700 mcg / ngày (2300 đơn vị).
  • Phụ nữ mang thai từ 14 đến 18 tuổi, 750 mcg / ngày (2500 đơn vị).
  • Phụ nữ mang thai từ 19 tuổi trở lên, 770 mcg / ngày (2600 đơn vị).
  • Phụ nữ cho con bú 14-18 tuổi, 1200 mcg / ngày (4.000 đơn vị).
  • Phụ nữ cho con bú từ 19 tuổi trở lên, 1300 mcg / ngày (4300 đơn vị).
  • Liều lượng ở mức chấp nhận được (UL) của vitamin A cũng được công bố. UL là mức cao nhất của lượng vitamin có thể không gây ra các nguy cơ có hại. Các ULs cho vitamin A là vitamin A được hình thành trước (retinol) và không bao gồm tiền vitamin A từ hợp chất hữu cơ:
  • Trẻ sơ sinh và trẻ em từ sơ sinh đến 3 tuổi: 600 mcg / ngày (2000 đơn vị).
  • Trẻ em 4-8 tuổi: 900 mcg / ngày (3000 đơn vị). – – Trẻ em 9-13 tuổi: 1700 mcg / ngày (6000 đơn vị).
  • Trẻ em 14-18 tuổi (bao gồm cả thời kỳ mang thai và cho con bú): 2800 mcg / ngày (9000 đơn vị).
  • Người từ 19 tuổi trở lên (bao gồm cả thời kỳ mang thai và cho con bú): 3000 mcg / ngày (10.000 đơn vị).

Vitamin A liều thường được thể hiện trong các đơn vị, nhưng liều lượng bằng microgam đôi khi được sử dụng.

Ăn 5 khẩu phần trái cây và rau quả mỗi ngày sẽ cung cấp khoảng 50% đến 65% liều lượng vitamin A được khuyến cáo ở người lớn.

Nguồn: WebMD

Bài viết chỉ mang tính tham khảo, có thể phù hợp hoặc chưa phù hợp với ai đó, trong hoàn cảnh nào đó, tất cả chỉ để biết, để tham khảo, để sử dụng mà thôi, không dính mắc, không chối bỏ. Hãy nhìn nhận với tâm bình thản, tâm quân bình. Nguyện cho quý vị được hạnh phúc, được an lạc! 🙏
2016-10-26T04:28:33+07:00

About the Author:

Doing good deeds - Làm phước thiện không giới hạn! Admin tại Khanhhai.net, đồng thời là admin fanpage Những Câu Nên Ngẫm Mỗi Ngày với hơn 400 ngàn fans.

Leave A Comment